Truy cập nội dung luôn

Nghiên cứu giáo dục Nghiên cứu giáo dục

Vài nét về bình đẳng giới trong giáo dục mầm non

Nói đến Bình đẳng giới thì có thể nói đây là một vấn đề mà xã hội hiện nay rất quan tâm. Bình đẳng giới không những tạo sự công bằng trong xã hội mà còn tác động tích cực đến sự phát triển xã hội.

 

Trong lĩnh vực giáo dục, vấn đề bình đẳng giới càng có ý nghĩa sâu sắc vì giáo dục là ngành mà lao động nữ chiếm rất cao trong tổng số lao động toàn ngành. Đặc biệt đối với bậc học Mầm non thì tỉ lệ lao động nữ chiếm 95,4%, chính vì thế việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nữ trong lĩnh vực giáo dục mầm non là rất quan trọng.

Tôi xin phép trích dòng tâm sự của ông xã một cô giáo mầm non:

Dù không theo ngành sư phạm, không đi dạy học nhưng tôi vẫn được nhiều phụ huynh, học sinh trân trọng gọi là "thầy", bởi lẽ vợ tôi là cô giáo. Sau chục năm gắn bó với em, tôi muốn chia sẻ tâm sự của người chồng khi có vợ làm nghề "gõ đầu trẻ" cho những bạn nào đang muốn trở thành cô giáo mầm non. Vì: "Lúc ở nhà, vợ cũng là... cô giáo. Lúc nào cả nhà cũng đều vào hội thi...."

Và tôi bất đắc dĩ phải trở thành người chồng, người cha đảm đang vì vợ tôi là giáo viên mầm non. Tôi thừa nhận, vợ làm giáo viên mầm non thì gia đình sẽ rất thiệt thòi vì vợ có ít thời gian chăm sóc chồng, con. Nhưng khi nghĩ tới việc vợ đang nuôi dưỡng những mầm non tương lai của đất nước, tôi lại vô cùng tự hào và nguyện sẽ mãi là "hậu phương" vững chắc cho vợ!

Đúng như vậy, là một bậc học trong hệ thống giáo dục quốc dân nhưng có lẽ trước đây không một ai quan tâm vì cho rằng làm cô giáo mầm non là chỉ biết hát múa, chỉ vô đút cơm cho trẻ ăn,.... Xin thưa chúng tôi là nữ nhưng rất tự hào với ngành nghề của mình, không những hát hay, múa giỏi chúng tôi còn là những tay chơi đàn guitar, đàn organ, những nhà biên kịch, rồi làm hoạ sĩ, kiêm luôn cả bác sĩ chăm sóc trẻ những lúc trẻ bị ốm. Có những lúc cần chúng tôi còn làm cả thợ sơn, thợ đóng đinh,.....và trong số đó vẫn có những người cán bộ quản lý giỏi, "Giỏi việc trường và cũng giỏi cả việc nhà". Nói như thế để chúng ta thấy đội ngũ cán bộ quản lý và GVMN hiện nay đã vươn lên khẳng định vị thế của mình và dành nhiều kết quả quan trọng.  Minh chứng qua các con số toàn bậc học MN có 4.756 nữ cán bộ- giáo viên- nhân viên, tỷ lệ 95,4%. Trong đó có 2.978  giáo viên trực tiếp chăm sóc giáo dục trẻ từ 0-6 tuổi, chiếm tỷ lệ 100%. Tổng số cán bộ quản lý MN toàn ngành: 402, tỷ lệ 100%. Có 28 trường MN đạt Chuẩn Quốc gia, tỉ lệ 14,9%; Có 37 trường đạt Kiểm định chất lượng giáo dục, tỉ lệ 19,7%.

 

Để đạt được kết quả như trên có thể nói đó là nhờ vào:

Sự tham gia của nữ vào các vị trí quản lí:  

Xây dựng quy hoạch và tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nữ cán bộ quản lý đương chức và kế cận, không ngừng nâng cao vị thế của cán bộ nữ trong ngành GD&ĐT và trong xã hội.  Công tác này là vấn đề "then chốt" có tính quyết định trước yêu cầu, nhiệm vụ mới  và có ý nghĩa quan trọng đối với nội dung hoạt động bình đẳng giới. 

 Hàng năm, đội ngũ cán bộ giáo viên trẻ, năng động, có triển vọng lâu dài đều được quan tâm  đưa vào kế họach đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ về lý luận chính trị, về quản lý nhà nước... Để giữ vững chất lượng và hiệu quả công tác của đội ngũ nữ cán bộ giáo viên, ngành giáo dục coi trọng việc tổ chức các lớp bồi dưỡng chuẩn hoá, trên chuẩn, đào tạo lại đối với đội ngũ nữ cán bộ giáo viên.

Nhìn chung, đội ngũ cán bộ quản lý nữ bậc học MN đã phát huy tốt năng lực chuyên môn, có tinh thần trách nhiệm, toàn tâm, toàn ý với công việc được giao. Hiệu quả quản lý của cán bộ nữ  ngày càng cao, uy tín của nữ cán bộ quản lý ngày càng được khẳng định. 

Tăng cơ hội tiếp cận với giáo dục:

Trong nhiều năm qua, mạng lưới giáo dục mầm non được phát triển rộng khắp 173 xã, phường, thị trấn với 188 trường MN, tăng cơ hội cho trẻ em được đến trường. Thực hiện tốt công tác PCGDMNTENT không phân biệt giới tính, dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng,.... mọi công dân đều có quyền được đi học.

Tạo điều kiện cho trẻ trong đó có trẻ em gái được hưởng thụ các chính sách về giáo dục và đào tạo:

Xây dựng cơ sở vật chất khang trang, trang bị thiết bị phục vụ cho công tác chăm sóc giáo dục trẻ, đồng thời thực hiện tốt cuộc vận động "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực" để tạo môi trường học tập thân thiện, hiệu quả cho trẻ.

Bố trí sử dụng lao động nữ về cơ bản phù hợp với trình độ, năng lực, hoàn cảnh gia đình như: Hỗ trợ xây dựng cơ sở vật chất, hỗ trợ trang thiết bị dạy học, các phương tiện, điều kiện như máy móc, ứng dụng công nghệ thông tin,.... giúp nhau về chuyên môn - nghiệp vụ; Nâng cấp các công trình vệ sinh, nguồn nước sinh hoạt cho giáo viên; ...

Đa dạng hoá các loại hình trường lớp mầm non để tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ vào học tại các nhóm trẻ, các lớp mẫu giáo.

Thu hẹp khoảng cách trong công tác đào tạo:

Ngành GD&ĐT cũng đã phối hợp với Trường Đại học Tiền Giang mở các lớp Quản lý giáo dục; Đại học và Cao đẳng tại chức; lớp Dinh dưỡng học đường, ......để đáp ứng nhu cầu học tập chuẩn hóa và nâng chuẩn cho CBQL, GV và NV. Trình độ chuyên môn của nữ CBQL và giáo viên ngày càng được nâng cao. Hiện nay nữ CBGV đạt chuẩn tăng hằng năm, trong năm học 2016-2017 đạt 100%; trên chuẩn đối với CBQL là 82,3%; GV là 57,4%.

Tham mưu với UBND tỉnh xây dựng chế độ, chính sách có liên quan đến nữ cán bộ, giáo viên, nhân viên, nhất là đối với giáo viên mầm non ngoài biên chế. Thực hiện tốt các quy định cho giáo viên, nhân viên hợp đồng như đóng BHXH,  BHYT, BHTN,....

Tại các cơ sở GDMN, các tổ chức Công đoàn thường xuyên tổ chức Hội thảo, tọa đàm nâng cao nhận thức cho nữ cán bộ, giáo viên, nhân viên trong việc đấu tranh chống các quan điểm, tư tưởng phong kiến, coi thường phụ nữ; khắt khe, hẹp hòi trong đánh giá, sử dụng và đề bạt cán bộ nữ để từ đó nâng cao nhận thức về phái nữ, tạo sự hiểu biết, thông cảm với chị em. Giúp đỡ nữ cán bộ, giáo viên, nhân viên khắc phục biểu hiện tự ti, thiếu ý thức vươn lên, ngại làm công tác quản lý, hẹp hòi, đố kỵ, níu kéo nhau...           

 Tiếp tục cải thiện điều kiện chăm sóc sức khoẻ cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và trẻ. Giáo dục Mầm non với việc chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ tại các cơ sở giáo dục đã ngày càng lớn mạnh về số lượng và chất lượng. Tỷ lệ trẻ được huy động ra lớp tiếp tục tăng so với năm học trước; tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng giảm so với năm học trước. Ngành đã mở nhiều lớp tập huấn cho nhiều lượt giáo viên mầm non về dạy trẻ khuyết tật, không ngừng tăng cường việc giáo dục hoà nhập cho trẻ khuyết tật.

Những khó khăn, thách thức:

Mặc dù nhận thức về Bình đẳng giới trong thời gian qua đã có sự chuyển biến đáng kể, nhưng vẫn còn một bộ phận chị em còn nhiều tự ti, tâm lý an phận, chưa mạnh dạn phấn đấu vươn lên và tỏ rõ bản lĩnh, năng lực nên chưa tạo được niềm tin cho lãnh đạo và xã hội, mặt khác do đời sống vật chất còn khó khăn nên phần nào cũng hạn chế sự phấn đấu của phụ nữ.

 Bên cạnh đó nhiều gia đình rất ủng hộ công việc của GVMN nhưng cũng có nhiều gia đình chưa hiểu được hết công việc của mầm non là gì? Chưa chia sẻ được với chị em những lúc khó khăn?

Với những khó khăn trên, thách thức đặt ra cho chúng ta là cần phải:

 - Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ có trình độ quản lý, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, có kinh nghiệm quản lý, có sức khoẻ đảm đương các trọng trách được giao. Tiếp tục xây dựng kế hoạch đào tạo và đào tạo lại giáo viên hệ mầm non trong kế hoạch đào tạo hàng năm của đơn vị để đáp ứng yêu cầu của xã hội.

 - Xây dựng cơ chế kiểm tra, giám sát công tác nuôi dạy trẻ tại các cơ sở giáo dục nhất là các nhóm lớp tư thục mầm non tại địa bàn dân cư, để đảm bảo an toàn cho trẻ, tạo điều kiện cho nữ lao động yên tâm gửi con để tham gia lao động sản xuất. Thực hiện tốt Đề án 404 về việc thành lập các nhóm trẻ tại các khu công nghiệp.

- Đẩy mạnh phong trào "Phụ nữ giỏi việc trường, đảm việc nhà" xây dựng "Gia đình Văn hoá", phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống Văn hoá" tạo điều kiện thuận lợi cho chị em trong công tác, học tập, giảng dạy... 

Nguyễn Vĩnh Hảo (Phòng Giáo dục Mầm non, Sở GD&ĐT Tiền Giang)


Tin liên quan
Tư liệu giảng dạy Lịch sử trong nhà trường: Thầy giáo Lê Văn Philippe - Một tấm gương bất khuất, kiên trung    01/08/2017
Tư liệu giảng dạy Lịch sử trong nhà trường: Vài mẩu chuyện về Bác Tôn với Tiền Giang    27/07/2017
Giáo dục và Đào tạo Tiền Giang 70 năm hình thành và phát triển (1945 - 2015)    09/06/2017
Miền đất học Tiền Giang trong nửa đầu thế kỷ XIX    09/06/2017
Ngành Giáo dục và Đào tạo Tiền Giang: Tiếp tục khẳng định vị thế, đáp ứng tốt yêu cầu cho sự nghiệp "trồng người"    09/06/2017
Tư liệu giảng dạy Lịch sử trong nhà trường: Đồng bào Tiền Giang với nhà yêu nước Phan Châu Trinh    30/05/2017
Tư liệu giảng dạy Lịch sử trong nhà trường: Buôn bán thóc gạo ở Tiền Giang và Nam Bộ trong các thế kỷ XVII, XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX    23/05/2017
Xây dựng văn hóa học đường - Một biện pháp hữu hiệu xóa bỏ bạo lực học đường    16/05/2017
Tư liệu giảng dạy Lịch sử trong nhà trường: Chiến dịch Rạch Gầm-Xoài Mút trong sự đối sánh với Chiến dịch Ngọc Hồi-Đống Đa    10/05/2017
Chương trình GDPT tổng thể: Đào tạo, bồi dưỡng giáo viên phải đi trước một bước    05/05/2017

Văn bản mới Văn bản mới

 V/v Mời tham dự lễ trao học bổng “Tiếp sức trẻ mồ côi khuyết tật đến trường” năm học 2017 -2018
 Danh sách niêm yết người đề nghị xét tuyển đặc cách kỳ xét tuyển đặc cách viên chức năm 2017
 2452- 2453- 2454/QĐ-UBND: Quyết định phê duyệt danh sách thí sinh được xét tuyển đào tạo theo địa chỉ sử dụng khối ngành bác sĩ tại Trường ĐH Y khoa Phạm Ngọc Thạch, ĐH Y Dược TP.Hổ Chí Minh, ĐH Y Dược Cần Thơ năm 2017
 3740/UBND-KGVX: Thực hiện Nghị quyết số 21/2017/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh
 967/TB-SGDĐT: V/v trả hồ sơ sau xét tuyển đào tạo theo địa chỉ sử dụng Ngành Y năm 2017

Liên kết Liên kết

Thống kê Thống kê

  Đang truy cập : 2
  Hôm nay: 1404
  Tổng lượt truy cập: 4812240