Truy cập nội dung luôn

>>>> TIN VẮN

14 giờ 13/11/2018 Hội thảo chia sẻ kinh nghiệm hoạt động dự án: Nâng cao chất lượng giáo dục------11/11/2018: Khởi động chương trình "Đường đến vinh quang" năm thứ X - năm học 2018-2019

Chi tiết tin

Vài ý kiến trao đổi khi giảng dạy Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 cho học sinh giỏi
28/11/2017

1. Khi dạy học sinh giỏi môn Lịch sử, giáo viên cần phải xác định rõ: trước hết Mình dạy cho ai? Dạy để làm gì? Từ đó sẽ quyết định Dạy cái gì? và dạy như thế nào? Vì có xác định đúng các vấn đề trên thì giáo viên mới xác định được nội dung, phương pháp giảng dạy phù hợp và đạt được hiệu quả cao.

Đầu tiên, giáo viên cần xác định đối tượng học sinh mà mình dạy là những học sinh giỏi. Đó là những học sinh đã có kiến thức nền khá vững vàng, có kỹ năng học và làm bài ở mức độ nhất định. Vì thế, việc lựa chọn vấn đề dạy và phương pháp dạy cho học sinh giỏi cũng cần được giáo viên đặc biệt quan tâm, vì nếu giáo viên sử dụng phương pháp dạy học không phù hợp sẽ dễ làm cho học sinh cảm thấy nhàm chán. Đặc biệt là phải giúp học sinh có thêm những kiến thức nâng cao dưới dạng chủ đề. Thông qua việc tiếp nhận những kiến thức đó, các em có thêm kỹ năng ôn tập và làm bài tốt hơn, các em có thể tự đưa ra những chính kiến, quan điểm của bản thân một cách đúng đắn, phù hợp.

 

Sách giáo khoa Môn Lịch Sử (Ảnh chụp màn hình từ công cụ tìm kiếm www.google.com.vn)

 

2. Khi dạy giai đoạn lịch sử Việt Nam từ 1930 – 1945, đây là giai đoạn sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời năm 1930 đến ngày 2/9/1945, Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trước tiên, giáo viên cần nắm được nội dung chính của giai đoạn, cụ thể như sau:

- Tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 cùng với cuộc "khủng bố trắng" của Pháp sau khởi nghĩa Yên Bái (9/2/1930), đã làm bùng nổ phong trào cách mạng trong cả nước những năm 1930-1931. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phong trào đã phát triển đến đỉnh cao với sự thành lập các Xô viết Nghệ - Tĩnh.

- Trong bối cảnh lịch sử những năm 1936-1939, khi chủ nghĩa phát xít xuất hiện đe dọa hòa bình thế giới và phong trào chống phát xít ở Pháp giành thắng lợi bước đầu, ở nước ta dấy lên phong trào đấu tranh công khai rộng lớn. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào đã thu hút đông đảo quần chúng tham gia, đấu tranh đòi tự do, dân chủ, cơm áo, hòa bình. Đây là phong trào quần chúng có mục tiêu, hình thức đấu tranh mới mẻ ở nước ta.

- Cuộc chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945) đã tác động đến toàn thế giới, trong đó có Việt Nam. Cuộc chiến đấu của nhân dân Liên Xô và các lực lượng dân chủ thế giới chống phát xít thắng lợi đã tạo điều kiện thuận lợi cho cách mạng nước ta và nhiều nước tiến lên giải phóng dân tộc. Đầu năm 1941, Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng, chủ trì Hội nghị Trung ương Đảng tháng 5/1941, hoàn chỉnh chủ trương đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu được đề ra tại Hội nghị Trung ương Đảng tháng 11/1939: Giương cao hơn nữa ngọn cờ giải phóng dân tộc, giải quyết vấn đề dân tộc trong phạm vi từng nước ở Đông Dương. Từ đây, cách mạng nước ta ngày càng phát triển, tiến đến khởi nghĩa giành chính quyền.

- Cách mạng tháng Tám năm 1945 thắng lợi là kết quả của quá trình chuẩn bị chu đáo trong 15 năm kể từ khi Đảng ra đời. Đảng đã lãnh đạo cuộc đấu tranh qua nhiều giai đoạn, toàn diện và trực tiếp nhất là giai đoạn tiến đến Tổng khởi nghĩa thắng lợi, chính quyền về tay nhân dân, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời.

Khi dạy học sinh giỏi, giáo viên cần cung cấp cho các em những kiến thức chuyên sâu, dưới dạng các chuyên đề. Cụ thể như sau:

Chuyên đề 1: Chủ trương, sách lược của Đảng với cách mạng Đông Dương và Việt Nam giai đoạn 1930-1945.

Chuyên đề 2: Vấn đề dân tộc, dân chủ từ 1930 đến 1945.

Chuyên đề 3: Các mặt trận dân tộc thống nhất từ 1930 đến 1945.

Chuyên đề 4:  Sự chuẩn bị cho Cách mạng tháng Tám năm 1945.

Chuyên đề 5: Vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh với cách mạng Việt Nam từ 1930 đến 1945.

Chuyên đề 6:  Những sự kiện của lịch sử thế giới tác động đến lịch sử Việt Nam từ 1930 đến 1945.

Chuyên đề 7: Mối quan hệ giữa giai đoạn 1930-1945 với các giai đoạn lịch sử trước và sau đó.

Chuyên đề 8:  Thời cơ trong cách mạng từ 1930 đến 1945.

Đây là phần kiến thức chuyên sâu, đòi hỏi học sinh phải dựa trên những kiến thức cơ bản của giai đoạn, biết tư duy, so sánh, xâu chuỗi các sự kiện mới trả lời được. Tuy đó là những câu hỏi tương đối khó, nhưng giáo viên không nên cung cấp một chiều cho học sinh mà cần biết lựa chọn, nêu ra vấn đề và hướng dẫn học sinh cách tự tìm ra câu trả lời. Cụ thể như sau:

- Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu một hoặc hai chuyên đề mẫu thông qua hoạt động nhóm. Ví dụ: Chuyên đề 1: Chủ trương, sách lược của Đảng với cách mạng Đông Dương và Việt Nam giai đoạn 1930-1945.

- Trước nhất, giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu khái niệm: chủ trương là gì? Sách lược là gì?

- Thứ hai, giáo viên yêu cầu học sinh nêu vai trò của chủ trương, sách lược với sự thắng lợi của một cuộc cách mạng.

- Thứ ba, giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu chủ trương của Đảng đối với cách mạng Đông Dương và Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1945 thông qua các câu hỏi gợi mở:

+ Chủ trương của Đảng với cách mạng Đông Dương từ 1930-1931 được thể hiện qua các văn kiện nào? (Học sinh có thể trả lời được đó là Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo và Luận cương chính trị của Trần Phú).

+ Chủ trương đó được thực hiện trong thời gian 1930-1931 ra sao? (Dựa vào các kiến thức đã nắm được về phong trào cách mạng 1930-1931, học sinh sẽ trả lời được câu hỏi này).

+ Trong giai đoạn 1936 - 1939, Đảng ta đã đưa ra chủ trương, sách lược gì? Vì sao Đảng ta lại đưa ra chủ trương, sách lược đó? (Dựa vào các kiến thức cơ bản đã được ôn tập về phong trào dân chủ 1936-1939, học sinh sẽ thấy ngay được chủ trương của Đảng từ 1936 đến 1939 được phản ánh trong nội dung của Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 7-1936. Đảng đưa ra chủ trương, sách lược đó để phù hợp với hoàn cảnh thế giới và trong nước lúc bấy giờ…).

+ Từ 1939-1945, chủ trương của Đảng được thể hiện qua các sự kiện nào? Tại sao Đảng lại có sự thay đổi chủ trương như vậy? Nội dung quan trọng nhất trong chủ trương chỉ đạo của Đảng từ 1939 đến 1945 là gì? (Học sinh sẽ trả lời được chủ trương của Đảng từ 1939-1945 được thể hiện trong Nghị quyết của các Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng tháng 11 - 1939, tháng 11 - 1940, tháng 5 - 1941). Sở dĩ từ 1939 - 1945, Đảng có sự thay đổi chủ trương so với thời gian trước đó (1936-1939) bởi vì hoàn cảnh trong nước và thế giới có những chuyển biến mau lẹ, đòi hỏi Đảng phải kịp thời nắm bắt tình hình, đề ra chủ trương mới, phù hợp. Nội dung quan trọng nhất trong chủ trương chỉ đạo cách mạng của Đảng từ 1939 đến 1945 là giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, coi đó là nhiệm vụ bức thiết nhất của toàn Đảng, toàn dân lúc này… Sau đó, chủ trương của Đảng được đề ra tại các Hội nghị Trung ương Đảng tháng 11- 1939, tháng 11- 1940, tháng 5- 1941 tiếp tục được bổ sung tại các Hội nghị của Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp tại Võng La, Đông Anh – Hà Nội (1943); Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp tại Đình Bảng – Từ Sơn – Bắc Ninh (3-1945), Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ (4-1945), quyết định của Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh khi nhận được những thông tin Nhật Bản sắp đầu hàng Đồng minh (13-8-1945), nội dung Hội nghị toàn quốc của Đảng (từ 14 đến 15-8-1945), Đại hội Quốc dân họp tại Tân Trào, Tuyên Quang (từ 16 đến 17-8-1945).

Từ những kinh nghiệm được giáo viên cung cấp trên, học sinh có thể tự học tập, chủ động chiếm lĩnh kiến thực và vận dụng những kiến thức đó để trả lời các câu hỏi liên quan ở những chuyên đề còn lại, với sự hướng dẫn cụ thể của giáo viên:

+ Học sinh tự đọc sách giáo khoa, tự lập dàn ý của các chuyên đề đó.

+ Học sinh trình bày dàn ý của cá nhân. Sau đó, giáo viên và các học sinh khác nhận xét, thảo luận và đi đến hình thành dàn ý chính xác và khoa học nhất. Từ đó, học sinh sẽ viết lại cho đầy đủ kiến thức của các chuyên đề đó.

+ Giáo viên sẽ nhận xét, đánh giá các bài viết của học sinh và rút ra bài học kinh nghiệm cho các em.

3. Công tác dạy học sinh giỏi muốn đạt kết quả cao cần phải thực hiện mối quan hệ biện chứng giữa hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh. Trong đó, hoạt động dạy của giáo viên là khá quan trọng. Giáo viên phải là người tạo được động cơ, khơi dậy được sự hứng thú học tập, sự khao khát tìm hiểu kiến thức của học sinh. Do đó, giáo viên phải căn cứ vào từng đối tượng học sinh mà yêu cầu, hướng dẫn và tổ chức điều khiển học sinh phát triển tư duy lịch sử, nhất là năng lực tư duy độc lập, sáng tạo. Bên cạnh đó, hoạt động học của học sinh cũng không kém phần quan trọng trong việc tạo nên sự thành công của bồi dưỡng học sinh giỏi. Học sinh phải là người chủ động chiếm lĩnh kiến thức, say mê đọc nhiều tài liệu lịch sử, biết suy nghĩ, tự đặt ra vấn đề và giải quyết các vấn đề được đặt ra. Muốn thành công, giáo viên phụ trách công tác dạy học sinh giỏi phải không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn và năng lực sư phạm của bản thân.

Trên đây là một số ý kiến trao đổi về việc bồi dưỡng học sinh giỏi phần lịch sử Việt Nam giai đoạn 1930 -1945. Do đây là ý kiến mang tính chủ quan nên chắc chắn sẽ không tránh khỏi sai sót, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến bổ sung từ các Thầy, Cô bộ môn.

                                                                Thạc sĩ  Nguyễn Công Chánh

------------------------------------------------------------------------------------------------------------

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Phạm Thanh Bình, 3/1995, Đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy học ở trường phổ thông - yêu cầu cấp bách của sự nghiệp giáo dục hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục.

2. Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2009, Chuyên đề chuyên sâu môn Lịch sử lớp 12 trường THPT Chuyên.

3. Nguyễn Thị Côi, 2/2002, Kênh hình, một nguồn kiến thức quan trọng trong dạy học Lịch sử, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục.

4. Mai Thị Hạnh – Trần văn Kiên, 2009, Chuyên đề ôn tập và luyện thi Lịch sử 12,  Nxb Hà Nội.

5. Phan Ngọc Liên - Trần Văn Trị, 2004, Phương pháp dạy học lịch sử, Nxb Giáo Dục.

6. Mai Ngọc Luông, 10/2005, Đổi mới phương pháp giảng dạy bộ môn lịch sử bậc trung học - một yêu cầu bức thiết, Tạp chí Dạy và học ngày nay.

7. Trần Đức Minh, 4/1999, Một yếu tố nâng cao tính tích cực học tập của học sinh, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục.

8. Ngô Minh Oanh - Nhữ Thị Phương Lan - Đào Thị Mộng Ngọc, 2006, Tài liệu bồi dưỡng giáo viên cốt cán trường THPT, môn Lịch Sử.

 9. Lê Vinh Quốc, 2007, Đề cương tóm tắt chuyên đề phương pháp dạy học lịch sử, Nxb Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh.

10. Trương Ngọc Thơi, 2008, Tài liệu lịch sử bồi dưỡng học sinh giỏi và luyện thi đại học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.

Đầu tiên, giáo viên cần xác định đối tượng học sinh mà mình dạy là những học sinh giỏi. Đó là những học sinh đã có kiến thức nền khá vững vàng, có kỹ năng học và làm bài ở mức độ nhất định. Vì thế, việc lựa chọn vấn đề dạy và phương pháp dạy cho học sinh giỏi cũng cần được giáo viên đặc biệt quan tâm, vì nếu giáo viên sử dụng phương pháp dạy học không phù hợp sẽ dễ làm cho học sinh cảm thấy nhàm chán. Đặc biệt là phải giúp học sinh có thêm những kiến thức nâng cao dưới dạng chủ đề. Thông qua việc tiếp nhận những kiến thức đó, các em có thêm kỹ năng ôn tập và làm bài tốt hơn, các em có thể tự đưa ra những chính kiến, quan điểm của bản thân một cách đúng đắn, phù hợp.

 

Sách giáo khoa Môn Lịch Sử (Ảnh chụp màn hình từ công cụ tìm kiếm www.google.com.vn)

 

2. Khi dạy giai đoạn lịch sử Việt Nam từ 1930 – 1945, đây là giai đoạn sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời năm 1930 đến ngày 2/9/1945, Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trước tiên, giáo viên cần nắm được nội dung chính của giai đoạn, cụ thể như sau:

- Tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 cùng với cuộc "khủng bố trắng" của Pháp sau khởi nghĩa Yên Bái (9/2/1930), đã làm bùng nổ phong trào cách mạng trong cả nước những năm 1930-1931. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phong trào đã phát triển đến đỉnh cao với sự thành lập các Xô viết Nghệ - Tĩnh.

- Trong bối cảnh lịch sử những năm 1936-1939, khi chủ nghĩa phát xít xuất hiện đe dọa hòa bình thế giới và phong trào chống phát xít ở Pháp giành thắng lợi bước đầu, ở nước ta dấy lên phong trào đấu tranh công khai rộng lớn. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào đã thu hút đông đảo quần chúng tham gia, đấu tranh đòi tự do, dân chủ, cơm áo, hòa bình. Đây là phong trào quần chúng có mục tiêu, hình thức đấu tranh mới mẻ ở nước ta.

- Cuộc chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945) đã tác động đến toàn thế giới, trong đó có Việt Nam. Cuộc chiến đấu của nhân dân Liên Xô và các lực lượng dân chủ thế giới chống phát xít thắng lợi đã tạo điều kiện thuận lợi cho cách mạng nước ta và nhiều nước tiến lên giải phóng dân tộc. Đầu năm 1941, Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng, chủ trì Hội nghị Trung ương Đảng tháng 5/1941, hoàn chỉnh chủ trương đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu được đề ra tại Hội nghị Trung ương Đảng tháng 11/1939: Giương cao hơn nữa ngọn cờ giải phóng dân tộc, giải quyết vấn đề dân tộc trong phạm vi từng nước ở Đông Dương. Từ đây, cách mạng nước ta ngày càng phát triển, tiến đến khởi nghĩa giành chính quyền.

- Cách mạng tháng Tám năm 1945 thắng lợi là kết quả của quá trình chuẩn bị chu đáo trong 15 năm kể từ khi Đảng ra đời. Đảng đã lãnh đạo cuộc đấu tranh qua nhiều giai đoạn, toàn diện và trực tiếp nhất là giai đoạn tiến đến Tổng khởi nghĩa thắng lợi, chính quyền về tay nhân dân, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời.

Khi dạy học sinh giỏi, giáo viên cần cung cấp cho các em những kiến thức chuyên sâu, dưới dạng các chuyên đề. Cụ thể như sau:

Chuyên đề 1: Chủ trương, sách lược của Đảng với cách mạng Đông Dương và Việt Nam giai đoạn 1930-1945.

Chuyên đề 2: Vấn đề dân tộc, dân chủ từ 1930 đến 1945.

Chuyên đề 3: Các mặt trận dân tộc thống nhất từ 1930 đến 1945.

Chuyên đề 4:  Sự chuẩn bị cho Cách mạng tháng Tám năm 1945.

Chuyên đề 5: Vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh với cách mạng Việt Nam từ 1930 đến 1945.

Chuyên đề 6:  Những sự kiện của lịch sử thế giới tác động đến lịch sử Việt Nam từ 1930 đến 1945.

Chuyên đề 7: Mối quan hệ giữa giai đoạn 1930-1945 với các giai đoạn lịch sử trước và sau đó.

Chuyên đề 8:  Thời cơ trong cách mạng từ 1930 đến 1945.

Đây là phần kiến thức chuyên sâu, đòi hỏi học sinh phải dựa trên những kiến thức cơ bản của giai đoạn, biết tư duy, so sánh, xâu chuỗi các sự kiện mới trả lời được. Tuy đó là những câu hỏi tương đối khó, nhưng giáo viên không nên cung cấp một chiều cho học sinh mà cần biết lựa chọn, nêu ra vấn đề và hướng dẫn học sinh cách tự tìm ra câu trả lời. Cụ thể như sau:

- Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu một hoặc hai chuyên đề mẫu thông qua hoạt động nhóm. Ví dụ: Chuyên đề 1: Chủ trương, sách lược của Đảng với cách mạng Đông Dương và Việt Nam giai đoạn 1930-1945.

- Trước nhất, giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu khái niệm: chủ trương là gì? Sách lược là gì?

- Thứ hai, giáo viên yêu cầu học sinh nêu vai trò của chủ trương, sách lược với sự thắng lợi của một cuộc cách mạng.

- Thứ ba, giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu chủ trương của Đảng đối với cách mạng Đông Dương và Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1945 thông qua các câu hỏi gợi mở:

+ Chủ trương của Đảng với cách mạng Đông Dương từ 1930-1931 được thể hiện qua các văn kiện nào? (Học sinh có thể trả lời được đó là Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo và Luận cương chính trị của Trần Phú).

+ Chủ trương đó được thực hiện trong thời gian 1930-1931 ra sao? (Dựa vào các kiến thức đã nắm được về phong trào cách mạng 1930-1931, học sinh sẽ trả lời được câu hỏi này).

+ Trong giai đoạn 1936 - 1939, Đảng ta đã đưa ra chủ trương, sách lược gì? Vì sao Đảng ta lại đưa ra chủ trương, sách lược đó? (Dựa vào các kiến thức cơ bản đã được ôn tập về phong trào dân chủ 1936-1939, học sinh sẽ thấy ngay được chủ trương của Đảng từ 1936 đến 1939 được phản ánh trong nội dung của Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 7-1936. Đảng đưa ra chủ trương, sách lược đó để phù hợp với hoàn cảnh thế giới và trong nước lúc bấy giờ…).

+ Từ 1939-1945, chủ trương của Đảng được thể hiện qua các sự kiện nào? Tại sao Đảng lại có sự thay đổi chủ trương như vậy? Nội dung quan trọng nhất trong chủ trương chỉ đạo của Đảng từ 1939 đến 1945 là gì? (Học sinh sẽ trả lời được chủ trương của Đảng từ 1939-1945 được thể hiện trong Nghị quyết của các Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng tháng 11 - 1939, tháng 11 - 1940, tháng 5 - 1941). Sở dĩ từ 1939 - 1945, Đảng có sự thay đổi chủ trương so với thời gian trước đó (1936-1939) bởi vì hoàn cảnh trong nước và thế giới có những chuyển biến mau lẹ, đòi hỏi Đảng phải kịp thời nắm bắt tình hình, đề ra chủ trương mới, phù hợp. Nội dung quan trọng nhất trong chủ trương chỉ đạo cách mạng của Đảng từ 1939 đến 1945 là giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, coi đó là nhiệm vụ bức thiết nhất của toàn Đảng, toàn dân lúc này… Sau đó, chủ trương của Đảng được đề ra tại các Hội nghị Trung ương Đảng tháng 11- 1939, tháng 11- 1940, tháng 5- 1941 tiếp tục được bổ sung tại các Hội nghị của Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp tại Võng La, Đông Anh – Hà Nội (1943); Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp tại Đình Bảng – Từ Sơn – Bắc Ninh (3-1945), Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ (4-1945), quyết định của Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh khi nhận được những thông tin Nhật Bản sắp đầu hàng Đồng minh (13-8-1945), nội dung Hội nghị toàn quốc của Đảng (từ 14 đến 15-8-1945), Đại hội Quốc dân họp tại Tân Trào, Tuyên Quang (từ 16 đến 17-8-1945).

Từ những kinh nghiệm được giáo viên cung cấp trên, học sinh có thể tự học tập, chủ động chiếm lĩnh kiến thực và vận dụng những kiến thức đó để trả lời các câu hỏi liên quan ở những chuyên đề còn lại, với sự hướng dẫn cụ thể của giáo viên:

+ Học sinh tự đọc sách giáo khoa, tự lập dàn ý của các chuyên đề đó.

+ Học sinh trình bày dàn ý của cá nhân. Sau đó, giáo viên và các học sinh khác nhận xét, thảo luận và đi đến hình thành dàn ý chính xác và khoa học nhất. Từ đó, học sinh sẽ viết lại cho đầy đủ kiến thức của các chuyên đề đó.

+ Giáo viên sẽ nhận xét, đánh giá các bài viết của học sinh và rút ra bài học kinh nghiệm cho các em.

3. Công tác dạy học sinh giỏi muốn đạt kết quả cao cần phải thực hiện mối quan hệ biện chứng giữa hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh. Trong đó, hoạt động dạy của giáo viên là khá quan trọng. Giáo viên phải là người tạo được động cơ, khơi dậy được sự hứng thú học tập, sự khao khát tìm hiểu kiến thức của học sinh. Do đó, giáo viên phải căn cứ vào từng đối tượng học sinh mà yêu cầu, hướng dẫn và tổ chức điều khiển học sinh phát triển tư duy lịch sử, nhất là năng lực tư duy độc lập, sáng tạo. Bên cạnh đó, hoạt động học của học sinh cũng không kém phần quan trọng trong việc tạo nên sự thành công của bồi dưỡng học sinh giỏi. Học sinh phải là người chủ động chiếm lĩnh kiến thức, say mê đọc nhiều tài liệu lịch sử, biết suy nghĩ, tự đặt ra vấn đề và giải quyết các vấn đề được đặt ra. Muốn thành công, giáo viên phụ trách công tác dạy học sinh giỏi phải không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn và năng lực sư phạm của bản thân.

Trên đây là một số ý kiến trao đổi về việc bồi dưỡng học sinh giỏi phần lịch sử Việt Nam giai đoạn 1930 -1945. Do đây là ý kiến mang tính chủ quan nên chắc chắn sẽ không tránh khỏi sai sót, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến bổ sung từ các Thầy, Cô bộ môn.

                                                                Thạc sĩ  Nguyễn Công Chánh

------------------------------------------------------------------------------------------------------------

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Phạm Thanh Bình, 3/1995, Đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy học ở trường phổ thông - yêu cầu cấp bách của sự nghiệp giáo dục hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục.

2. Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2009, Chuyên đề chuyên sâu môn Lịch sử lớp 12 trường THPT Chuyên.

3. Nguyễn Thị Côi, 2/2002, Kênh hình, một nguồn kiến thức quan trọng trong dạy học Lịch sử, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục.

4. Mai Thị Hạnh – Trần văn Kiên, 2009, Chuyên đề ôn tập và luyện thi Lịch sử 12,  Nxb Hà Nội.

5. Phan Ngọc Liên - Trần Văn Trị, 2004, Phương pháp dạy học lịch sử, Nxb Giáo Dục.

6. Mai Ngọc Luông, 10/2005, Đổi mới phương pháp giảng dạy bộ môn lịch sử bậc trung học - một yêu cầu bức thiết, Tạp chí Dạy và học ngày nay.

7. Trần Đức Minh, 4/1999, Một yếu tố nâng cao tính tích cực học tập của học sinh, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục.

8. Ngô Minh Oanh - Nhữ Thị Phương Lan - Đào Thị Mộng Ngọc, 2006, Tài liệu bồi dưỡng giáo viên cốt cán trường THPT, môn Lịch Sử.

 9. Lê Vinh Quốc, 2007, Đề cương tóm tắt chuyên đề phương pháp dạy học lịch sử, Nxb Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh.

10. Trương Ngọc Thơi, 2008, Tài liệu lịch sử bồi dưỡng học sinh giỏi và luyện thi đại học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.

Cỡ chữ
Tương phản
Đánh giá bài viết(0/5)

Văn bản mới Văn bản mới

VĂN BẢN MỚI
 701/QĐ-SGDĐT: Quyết định về việc cử đại biểu tham dự Đại hội Thể thao toàn quốc lần thứ VIII năm 2018.
 700/QĐ-SGDĐT: Quyết định về việc thành lập tổ Trọng tài Giải Bóng chuyền Chào mừng ngày Nhà Giáo Việt Nam 20/11/2018.
 683/QĐ-SGDĐT: Quyết định về việc Ban hành Quy tắc Hội thao Giáo dục Quốc phòng an ninh học sinh Trung học phổ thông cấp tỉnh năm học 2018-2019
 664/QĐ-SGDĐT: Quyết định phê duyệt kế hoạch thanh tra năm học 2018-2019

Tin Ảnh Tin Ảnh

Liên kết Liên kết

Thống kê Thống kê

  Đang truy cập : 5
  Hôm nay: 605
  Tổng lượt truy cập: 5451895