Truy cập nội dung luôn

>>>> TIN VẮN

Việt Nam đạt thành tích cao Cuộc thi Tìm kiếm Tài năng Toán học ITMC 2019 ---------------Việt Nam có trường đại học vào top 25 cơ sở nghiên cứu hàng đầu ASEAN ---------------Việt Nam có 7 trường ĐH vào tốp những ĐH hàng đầu thế giới

Chi tiết tin

NGHIÊN CỨU SẢN XUẤT THAN HỮU CƠ TỪ VỎ SẦU RIÊNG PHẾ THẢI
15/10/2019 - Lượt xem: 61

NGHIÊN CỨU SẢN XUẤT THAN HỮU CƠ TỪ VỎ SẦU RIÊNG PHẾ THẢI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

Huỳnh Minh Huy 1*

1 Thạc sĩ, giáo viên hóa học, Trường THPT Cái Bè, Tiền Giang.

TÓM TẮT

- Một trong những giải pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường do lượng khí cacbon dioxide tăng cao trong không khí như hiện nay là sử dụng các nguồn năng lượng sạch từ các phế phẩm nông nghiệp. Ở huyện Cái Bè, những phế phẩm nông nghiệp như: vỏ mít, vỏ chuối và đặc biệt là vỏ sầu riêng không ngừng gia tăng nhưng việc tái chế những phế phẩm này vẫn còn đang bỏ ngỏ.

- Đề tài này nhằm nghiên cứu sản xuất “than sạch” từ vỏ thực vật phế thải nhằm tận dụng nguồn phế phẩm trên vào xu hướng tái sử dụng chất thải để sản xuất chất đốt, việc này sẽ giúp thay thế dần việc sử dụng than tổ ong, đảm bảo sức khỏe con người, giảm bớt ô nhiễm môi trường và tạo hướng nghiên cứu mới về các nguồn năng lượng thay thế.

1. GIỚI THIỆU

Hiện nay nguồn nhiên liệu đốt vẫn đang giữ một vị trí rất quan trọng trong sự phát triển của kinh tế ở nước ta, trong đó than đá là nguồn sử dụng chủ yếu. Nhưng việc khai thác và sử dụng các loại nhiên liệu này đã thải ra môi trường rất nhiều các loại khí thải độc hại trong đó có CO2 (thành phần gây hiệu ứng nhà kính). Nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào việc sản xuất “than sạch” từ vỏ sầu riêng, vỏ chuối, vỏ mít trên địa bàn huyện Cái Bè.

2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tìm hiểu về phương pháp xác định độ ẩm, độ tro và hàm lượng lưu huỳnh của than, tiến hành nghiên cứu và sản xuất than từ vỏ sầu riêng.

2.1 Nghiên cứu sản xuất than hữu cơ

2.1.1 Vật liệu và thiết bị

- Dụng cụ ép đùn, cân loại nhỏ để xác định khối lượng nguyên liệu.

- Máy và khuôn ép viên để sản xuất than bánh tổ ong.

 

 

 

Hình 1. Dụng cụ và thiết bị thí nghiệm

2.1.2  Chuẩn bị nghiên cứu

https://scontent.fsgn5-4.fna.fbcdn.net/v/t1.15752-9/46515982_345249132721455_2547030514083037184_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_ht=scontent.fsgn5-4.fna&oh=27b7fb601bdf913ee59476d8264dd436&oe=5C725C08WP_20141102_001Kết quả hình ảnh cho vỏ mítIMG_2700Kết quả hình ảnh cho muối hột

Hình 2. Các nguyên liệu cần thiết

* Chuẩn bị nguyên liệu:

- Vỏ chuối: thu được khi ăn chuối chín, thu gom ở chỗ bán thức ăn về chuối.

- Vỏ sầu riêng: Xin các vựa sầu riêng ở địa phương.

- Vỏ mít: Thu gom ở chợ sau mỗi 17 giờ chiều.

- Bùn (đất): chọn loại bùn dẻo.

- Muối và nước.

Bảng 3: Thành phần nguyên liệu và khối lượng cho một bánh than hữu cơ

Stt

Nguyên liệu

Khối lượng (%)

1

Vỏ sầu riêng

65 %

2

Vỏ mít

10 %

3

Vỏ chuối

10 %

4

Bùn (đất)

10 %

5

Muối

5 %

 

 

 

 

 

 

 

2.1.3 Tiến hành nghiên cứu

- Bước 1: Thu gom vỏ sầu riêng, vỏ chuối và vỏ mít. Sau đó sơ chế bằng biện pháp cơ học: tách, giã nhỏ, nghiền mịn. 

WP_20141118_013https://scontent.fsgn3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.15752-9/46627398_291455988146796_1272162260738899968_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_ht=scontent.fsgn3-1.fna&oh=7b32ab935fc59ce855b9e511353d5046&oe=5C7094DEhttps://scontent.fsgn5-5.fna.fbcdn.net/v/t1.15752-9/46399579_1985015211591896_1832336320962232320_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_ht=scontent.fsgn5-5.fna&oh=c0185862e0710e881ede1cd63f848b1a&oe=5C6C0F46

Hình 3. Giã nhỏ, xay nhuyễn nguyên liệu

- Bước 2: Phối trộn hỗn hợp trên với muối và thêm phụ gia là bùn.

- Bước 3: Hỗn hợp sau khi phối trộn được cho vào khuôn để ép thành than tổ ong (sử dụng máy ép khuôn tổ ong tại phòng thực hành hóa).

https://scontent.fsgn5-5.fna.fbcdn.net/v/t1.15752-9/46488202_1291649847642810_4120439173918228480_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_ht=scontent.fsgn5-5.fna&oh=8c3a4fef7a138ad975df1f5bb6209403&oe=5CAEBACE

Hình 4. Máy ép khuôn tổ ong

* Than hữu cơ có thể kết dính là do bùn, vỏ sầu riêng và đặc biệt vỏ chuối có khả năng kết nối rất tốt với các loại thành phần khác và có những đặc tính giống như keo dán.

https://scontent.fsgn5-5.fna.fbcdn.net/v/t1.15752-9/47215544_297436894227931_6597357903126986752_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_ht=scontent.fsgn5-5.fna&oh=cca302af24f130981dfb74f625ffcc43&oe=5CA726BC

Hình 5. Than hữu cơ thành phẩm

2.2 Nghiên cứu phương pháp xác định độ ẩm, độ tro, hàm lượng lưu huỳnh trong than

2.2.1 Xác định độ ẩm của than bùn

a) Nguyên tắc: Cân trọng lượng mẫu trước và sau khi sấy ở nhiệt độ 105-110°C.

b) Dụng cụ

- Đĩa thủy tinh có đường kính khoảng 9 cm và sau 5 cm.

- Cân phân tích

- Bình hút ẩm

- Tủ sấy có bộ phận điều chỉnh nhiệt độ

c) Tiến hành

- Sấy khô đĩa thủy tinh, để trong bình hút ẩm cho nguội cân đĩa chính xác tới 0.001 gam.

- Lấy 10 mẫu (± 0.1 gam) cho vào đĩa.

- Cho đĩa đựng mẫu vào tủ sấy ở t = 105°-110°C, thời gian 1,5 giờ.

- Lấy đĩa ra để nguội trong 2 giờ, cho vào bình hút ẩm để nguội đến nhiệt độ phòng, rồi cân.

- Sau đố sấy kiểm tra trong 30 phút và xác định độ mát mát về trọng lượng. Nếu chênh lệch > 0,01 thì tiếp tục sấy mỗi lần 30 phút đến trọng lượng không đổi.

Chú ý: Tránh để vật lạ rơi vào làm sai kết quả phân tích (khi sấy đậy nửa kín, nửa hở, khi cân phải đậy kín nắp)

d) Công thức tính độ ẩm

- Hàm lượng ẩm của mẫu (độ ẩm tự do) M1 được tính bằng phần trăm khối lượng theo công thức:

- Trong đó:

+ m1 (gam) là khối lượng của (các) khay chưa có mẫu.

+ m2 (gam) là khối lượng của (các) khay có chứa mẫu trước khi làm khô.

+ m3 (gam) là khối lượng của (các) khay có chứa mẫu sau khi làm khô.

Chú ý: Khi cần xác định nhanh độ ẩm của mẫu, có thể tiến hành sấy ở nhiệt độ 130°-150°C trong 20 phút.

2.2.2 Cách xác định độ tro của than bùn (A%)

a) Nguyên tắc

Nung ở nhiệt độ cao trong điều kiện có không khí, cân trọng lượng trước và sau khi nung.

b) Dụng cụ

- Lò nung.

- Cốc nung bằng sứ.

- Bình hút ẩm.

- Cân phân tích.

- Kẹp sắt.

c) Tiến hành

- Cân 2 gam mẫu cho vào cốc đốt bằng sứ và nung trong lò nung ở nhiệt độ 800°C ± 25°C khoảng 1 giờ (lưu ý: không đậy kín). Lấy cốc ra để nguội ngoài không khí 5 phút, sau đó cho vào bình hút ẩm để đến nhiệt độ phòng, rồi cân.

- Nung kiểm tra khoảng 30 phút và xác định sự thay đổi trọng lượng, nếu sự thay đổi < 0,0001 gam thì kết thúc việc nung và coi đó là số liệu để tính toán.

d) Tính kết quả

Độ tro (A%) tính theo công thức:

G1 : Trọng lượng tro, gr

G: Trọng lượng mẫu, gr

2.2.3 Xác đnh hàm lưng lưu huỳnh tổng - PHƯƠNG PHÁP ESCHKA Solid mineral fuels - Determination of total sulfur -- Eschka method

- Nguyên tắc: Phần mẫu thử được nung trong môi trường oxy hóa với hỗn hợp Eschka tại 800 °C để loại các chất dễ cháy và chuyển lưu huỳnh thành sulfat. Sau đó chiết bằng dung dịch axit clohydric và xác định theo phương pháp khối lượng bằng kết tủa với bari clorua.

- Thuốc thử: Trong quá trình phân tích, nếu không có các qui định khác, thì chỉ sử dụng các thuốc thử có cấp tinh khiết phân tích và nước cất hoặc nước có độ tinh khiết tương đương.

- Hỗn hợp Eschka: Trộn đều hai phần khối lượng bột nhẹ magie oxit với một phần khối lượng natri (hoặc kali) carbonat khan. Hỗn hợp này được sàng qua sàng thử nghiệm có cỡ lỗ danh nghĩa bằng 212 μm.

- Axit clohydric: Đậm đặc ρ bằng khoảng 1,18 g/mL, xấp xỉ 36 % (khối lượng).

- Dung dịch kali sulfat: Cân chính xác đến 0,1 mg, khoảng 2 gam kali sulfat, đã sấy khô trước tại nhiệt độ từ 105°C đến 110°C. Hòa tan trong nước và pha loãng đến 1 L.

- Bari clorua, dung dịch xấp xỉ 85 g/L: Hòa tan 100 g bari clorua dihidrat trong nước và pha loãng đến 1 L. Trước khi dùng phải lọc qua giấy lọc mịn đã rửa axit hai lần hoặc đệm giấy lọc.

- Dung dịch chỉ thị metyl đỏ: Hòa tan 1 g axit 2 (4dimetylaminphenylazo) benzoic, muối natri (metyl đỏ) trong 1 L nước.

- Amoniac: Dung dịch đậm đặc, không nhỏ hơn 25 % (khối lượng).

- Bạc nitrat, dung dịch 17 g/L: Hòa tan 17 gam bạc nitrat trong nước và pha loãng đến 1 L. Bảo quản trong chai thủy tinh tối màu.

a) Thiết bị, dụng cụ

* Cân phân tích: Có khả năng cân chính xác đến 0,1 mg.

b) Dụng cụ thủy tinh chia độ: Phù hợp với các yêu cầu loại A trong tiêu chuẩn tương ứng hiện hành.

c) Lò múp đốt bằng điện: Lò có khả năng duy trì nhiệt độ tại 800°C ± 25°C. Thông gió qua lò múp phải đạt khoảng 5 lần/1phút.

d) Chén nung: Chén nung làm bằng platin, silica hoặc sứ tráng men, có dung tích xấp xỉ 25 mL.

e) Tấm cách nhiệt: Dày 6 mm, bằng silica (hoặc vật liệu chịu lửa thích hợp khác) dễ dàng đặt trong lò múp.

f) Chén Gooch: Chén làm bằng sứ tráng men hoặc thủy tinh thiêu kết.

g) Tủ sấy: Tủ có khả năng duy trì nhiệt độ tại 130°C ± 10°C.

2.2.3.2 Chuẩn bị mẫu thử

- Mẫu thử là mẫu phân tích chung được chuẩn bị theo ISO 13909-4 hoặc ISO 5069-2, tương ứng. Mẫu được trải thành lớp mỏng đều, trong khoảng thời gian ngắn nhất để độ ẩm đạt cân bằng với độ ẩm môi trường của phòng thử nghiệm (đây là điều quan trọng đặc biệt đối với than nâu và linhít).

- Trước khi bắt đầu phân tích, phải trộn đều mẫu thử trong thời gian ít nhất là một phút, tốt nhất là bằng dụng cụ cơ học.

- Nếu các kết quả sẽ được tính chuyển sang trạng thái khác ngoài trạng thái "khô không khí" thì sau khi cân phần mẫu thử sử dụng phần còn lại của mẫu thử để xác định hàm lượng ẩm theo phương pháp mô tả trong TCVN 4919 (ISO 687), TCVN 11152 (ISO 11722), hoặc TCVN 8620-1 (ISO 5068-1), nếu thích hợp.

2.2.3.3 Cách tiến hành

- Lấy phần mẫu thử có khối lượng theo Bảng 1 (theo hàm lượng lưu huỳnh tổng dự kiến), cân chính xác đến 0,1 mg.

Bảng 4. Phần mẫu thử của than

Hàm ợng lưu huỳnh tng dự kiến

Khi lượng mẫu th

% (khối lượng)

(gam)

5

1,0

từ 5 đến 10

0,5

> 10

0,25

 

- Lấy phần mẫu thử bằng 1 g, cân chính xác đến 0,1 mg.

- Lót đều lên đáy chén nung một lượng 0,5 gam hỗn hợp Eschka đã cân chính xác đến 0,1 mg. Trộn kỹ mẫu thử với 2,5 gam hỗn hợp Eschka đã cân chính xác đến 0,1 mg trong cốc phù hợp. Chuyển hỗn hợp sang chén nung dung tích 25 mL. Dàn phẳng hỗn hợp bằng cách gõ nhẹ chén lên bàn, rồi phủ lên trên và dàn đều 1,0 gam hỗn hợp Eschka đã cân chính xác đến 0,1 mg.

- Cân 4 gam hỗn hợp Eschka, lấy từ đó ra các phần 0,5 gam và 1 gam dùng làm lớp đáy và lớp bề mặt. Có thể dùng một ống thủy tinh nhỏ để lấy từng mẻ hỗn hợp Eschka 0,5 gam và 1 gam mà không cần cân. Lớp hỗn hợp Eschka ở đáy chén đặt dưới phần hỗn hợp mẫu sẽ giảm sự ăn mòn lên bề mặt sứ, do đó khi chiết sunfat bằng nước nóng sẽ đạt được hoàn toàn ngay cả khi bề mặt sứ bịhư hỏng.

- Đặt chén nung đã nạp mẫu (số lượng chén phụ thuộc khả năng chứa của lò múp) vào lò múp nguội và nâng nhiệt độ lên tới 800 °C ± 25 °C trong khoảng một giờ, tiếp tục duy trì nhiệt độ đó ít nhất khoảng 1,5 giờ nữa. Lấy chén (hoặc các chén) ra và để nguội.

CHÚ THÍCH: Chén được làm nguội từ từ để tránh nứt, vỡ; muốn vậy, khi lấy ra khỏi lò đặt chén lên tấm đế chịu lửa, xốp nhẹ.

- Đặt chén nung (hoặc các chén nung) đã nạp mẫu lên tấm cách nhiệt nguội và đưa vào lò múp ở nhiệt độ 800°C ± 25°C duy trì nhiệt độ này ít nhất thêm 1,5 giờ nữa. Lấy chén (hoặc các chén) ra và để nguội.

- Thu hồi phần còn lại sau khi nung: Chuyển hỗn hợp đã nung từ chén vào cốc dung tích 400 mL có chứa 25 mL đến 30 mL nước. Nếu vẫn còn các hạt chưa cháy thì phải ngừng lại và làm lại thí nghiệm. Rửa kỹ chén nung bằng 50 mL nước nóng, và cho phần nước rửa vào cốc thử.

- Chiết mẫu: Đậy nắp thủy tinh lên cốc thử, sau đó nghiêng nắp thủy tinh, cẩn thận cho vào một lượng (thường cần đến 17 mL) axitclohydric đủ để hòa tan chất rắn. Đun nóng để chất rắn tan hoàn toàn. Đun sôi trong 5 phút. để đuổi khí carbonic rồi tiến hành lọc. Thu gom phần nước lọc vào bình tam giác dung tích 400 mL.

CHÚ THÍCH: Nên dùng giấy lọc loại trung bình để rửa axit hai lần hoặc khuyến cáo dùng đệm giấy lọc để lọc nhanh.

- Để chuẩn bị đệm giấy lọc, đặt những miếng giấy lọc đã rửa axit hai lần có diện tích khoảng 1 cm2 vào đáy cốc có sẵn nước, rồi lắc cho đến khi giấy bị phân rã hoàn toàn. Đặt một phễu lọc hình nón bằng sứ 25 mm vảo phễu 75 mm, bịt cuống phễu bằng ngón tay và đổ thêm nước vào phễu đến khi phần nón chìm trong nước và cuống phễu đầy nước. Lắc cho bột giấy lên trên phần hình uốn, đủ tạo thành một lớp đệm dầy 5 mm, làm phẳng đệm này bằng thanh thủy tinh đầu bẹp. Bỏ ngón tay nút cuống phễu để tháo hết nước thừa, dùng thanh thủy tinh đầm nhẹ quanh viền đệm giấy lọc. Rửa lần cuối với nước và đệm lọcđã sẵn sàng để sử dụng.

- Rửa bộ lọc năm lần bằng nước nóng, mỗi lần 20 mL.

- Đổ lẫn nước lọc với nước rửa vào cốc rồi cho vào 2 hoặc 3 giọt chỉ thị metyl đỏ, sau đó cẩn thận cho dung dịch amoniac vào cho đến khi chất chỉ thị đổi màu và vết xuất hiện kết tủa. Cho thêm axit clohydric vừa đủ để hòa tan kết tủa và sau đó thêm 1 mL axit clohydric.

* Kết tủa bari sulfat

- Sau khi chiết, nếu cần thì pha loãng dung dịch đến 200 mL rồi đậy cốc thử bằng nắp thủy tinh. Đun cho đến khi dung dịch sôi, rồi giảm dần đến khi dung dịch ngừng sôi. Sau đó dùng pipet cho 10 mL dung dịch bari clorua nguộitrong khoảng 20 giây, sao cho dung dịch bari clorua rơi đúng giữa dung dịch nóng khi đang khuấy. Giữ dung dịch ở dưới điểm sôi khoảng 30 min. Sử dụng một trong các phương pháp sau để lọc dung dịch:

+ Lọc trọng lực qua đệm giấy lọc được làm bằng giấy lọc không tro đã được rửa axit hai lần.

+ Sau khi chuyển đệm giấy lọc vào chén, lau sạch phễu bằng hai nửa của tấm giấy lọc không tro rồi đặt giấy đó vào chén cùng với đệm. Cho chén nung từ từ vào lò múp, tại nhiệt độ 800°C ± 25°C và nung trong thời gian 15 phút. Làm nguội trong bình hút ẩm rồi cân chính xác đến 0,1 mg.

* Phép thử trắng: Thực hiện phép thử trắng theo cùng trình tự như đối với phép xác định nhưng không có phần mẫu thử. Dùng pipet một vạch cho 25,0 mL dung dịch kali sulfat vào phần lọc trước khi cho dung dịch chỉ thị metyla đỏ.

2.2.3.4 Biểu thị kết quả

Hàm lượng lưu huỳnh, wS, của mẫu thử, tính theo phần trăm khối lượng, được xác định theo công thức (1)

(1)

trong đó:

m1

là khối lượng của phần mẫu thử, tính bằng gam;

m2

là khối lượng bari sulfat thu được trong phép xác định, tính bằng gam;

m3

là khối lượng bari sulfat thu được trong thí nghiệm trắng, tính bằng gam;

là nồng độ khối lượng của dung dịch kali sulfat (4.3) tính bằng gam/lit.

CHÚ THÍCH:

Bảng 5: Khối lượng nguyên tử tương đối

Nguyên t

Ký hiu

Khi lượng nguyên tử tương đi

Bari

Ba

137,33

Oxy

O

15,999

Kali

K

39,098

Lưu huỳnh

S

32,06

 

 

Khối lượng, tính bằng gam, của bari sulfat tương đương với 25 mL dung dịch kali sulfat, xác định theo công thức (A.1):

 (A.1)

trong đó  là nồng độ khối lượng của dung dịch kali sulfat, tính bằng gam/lit.

Như vậy, hàm lượng lưu huỳnh, wS, của mẫu tính bằng phần trăm khối lượng xác định theo công thức (A.2)

(A.2)

trong đó:

m1

là khối lượng của phần mẫu thử, tính bằng gam;

m2

là khối lượng bari sulfat thu được trong phép xác định, tính bằng gam;

m3

là khối lượng bari sulfat thu được trong phép thử trắng, tính bằng gam;

Do đó: (A.3)

3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 Đun so sánh giữa than hữu cơ và than tổ ong thông thường

- Mẫu than hữu cơ sau khi hoàn thiện sẽ được phơi khô tự nhiên trong khoảng 8 ngày (tùy thời tiết), sau đó cho vào bếp đun để đun so sánh với than tổ ong thông thường, và ghi nhận một số chỉ tiêu như bảng dưới đây:

Bảng 6: Các chỉ tiêu so sánh khi đun than bánh và than tổ ong thông thường

                           Tiêu chí

 

Loại than

Thời gian

cháy

Lượng khói

tỏa ra lúc đầu

Mùi than

cháy

Than bánh hữu cơ

67 phút

Ít khói

Mùi dễ chịu từ vỏ mít

Than tổ ong thông thường

89 phút

Rất nhiều

Khó chịu và gây ngạt

 

Bảng 7: So sánh thời gian đun sôi nước của hai loại than

                  Tiêu chí

Loại than

Thời gian cháy đủ đun sôi lượng nước như nhau (Cốc thủy tinh 500 mL chứa 300 mL nước)

Than hữu cơ

25 phút

Than thông thường

20 phút

 

Kết quả đun so sánh ở hai bảng trên cho thấy, than hữu cơ có khả năng bắt lửa nhanh hơn nhiều so với than thông thường, thời gian đun sôi nước chậm hơn (không nhiều) nhưng lại rất ít mùi, và do tận dụng nguồn phế thải từ sản xuất nông nghiệp nên giá thành nhiên liệu rẻ, tiết kiệm chi phí nhiên liệu, thân thiện môi trường. Ngược lại, than thông thường thời gian cháy lâu hơn, khi cháy tạo mùi khó chịu, chi phí nhiên liệu cao đồng thời gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người và môi trường.

3.2 Độ ẩm của “Than hữu cơ”

Bảng 8: Độ ẩm của “Than hữu cơ”

       Thời gian phơi

Lần đo

 

5 ngày

 

8 ngày

 

9 ngày

 

10 ngày

Lần 1

7,9 %

4,5 %

2,2 %

2,6 %

Lần 2

8,3 %

5,6 %

2,7 %

2,4 %

Lần 3

8,0 %

4,9 %

2,8 %

2,8 %

Trung bình

8,06 %

5,0 %

2,56 %

2,6 %

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

* Kết luận: Độ ẩm tối ưu sau khi phơi khoảng 9 ngày (có nắng liên tục).

3.3 Hàm lượng tro của “Than hữu cơ”

Bảng 9: Hàm lượng tro của “Than hữu cơ”

Than hữu cơ

 

Tỉ lệ phối trộn

14:1:1:3:1

Tỉ lệ phối trộn

12:2:2:3:1

Tỉ lệ phối trộn

13:2:2:2:1

Đo lần 1

45 %

43 %

39 %

Đo lần 2

53 %

50 %

41 %

Đo lần 3

49 %

47 %

38 %

Trung bình

49 %

46,67 %

39,3 %

 

 

 

 

 

 

 

* Kết luận: Tỉ lệ phối trộn tối ưu nhất là 13:2:2:2:1

3.4 Hàm lượng lưu huỳnh của “Than hữu cơ”

- Đánh giá hàm lượng lưu huỳnh của than sau khi phơi 9 ngày (mục 3.2) với tỉ lệ phối trộn 13:2:2:2:1 (mục 3.3) ta được:

Bảng 10: Hàm lượng lưu huỳnh của “Than hữu cơ”

Than hữu cơ

Đo lần 1

Đo lần 2

Đo lần 3

Trung bình

Hàm lượng lưu huỳnh

0,35 %

0,47 %

0,21 %

0,35%

 

* Than hữu cơ có hàm lượng lưu huỳnh khá thấp.

4. KẾT LUẬN

- Việc sản xuất than hữu cơ không chỉ tạo ra được chất đốt, giảm thiểu ô nhiễm môi trường  mà còn mở ra triển vọng giải quyết tình trạng khan hiếm chất đốt ở vùng nông thôn, giảm nạn phá rừng, thay thế các loại  nhiên  liệu  gas,  dầu  lửa,  mang  lại  hiệu  quả  kinh  tế  trong  quá  trình  sản xuất.

-  Loại chất đốt này có thể thay thế cho than tổ ong thông thường vừa độc hại đối với môi trường, vừa ảnh hưởng đến sức khỏe con người như viêm phế quản mãn tính, làm hạn chế không khí do hẹp đường thở, ....

- Lượng tro còn lại sau khi đốt có thể sử dụng bón lót cho các loại cây trồng tại địa phương.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Nguyễn Thị Kiều Duyên (2016), Điều chế và khảo sát ứng dụng của vật liệu hấp phụ từ vỏ chuối, Luận văn tốt nghiệp, Trường Đại học Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh.

[2] Nguyễn Bình (2014), Nghiên cứu điều chế vật liệu hấp phụ từ bã mía và khảo sát

ứng dụng, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Sư phạm TP. HCM.

[3] Trần Hồng Côn, Đồng Kim Loan, 2001, Độc học và vệ sinh công nghiệp, Tài liệu lưu hành nội bộ, Đại học Quốc Gia Hà Nội.

[4] Nguyễn Thùy Dương, 2008, Đề tài: “Nghiên cứu khả năng hấp phụ một số ion kim loại nặng trên vật liệu hấp phụ chế tạo từ vỏ lạc và thăm dò xử lý môi trường”, Luận văn thạc sĩ hóa học.

[5] Đặng Văn Phi (2012), Nghiên cứu sử dụng vỏ chuối để hấp phụ một số ion kim loại nặng trong nước, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Đà Nẵng.

[6] Võ Đình Ngộ, Nguyễn Siêu Nhân, Trần Mạnh Trí (1997), Than bùn ở Nam Việt Nam và sử dụng than bùn trong nông nghiệp, NXB Nông Nghiệp.

Tương phản
Đánh giá bài viết(0/5)

Văn bản mới Văn bản mới

VĂN BẢN MỚI
 1694/SGDĐT-TCHC: V/v triển khai cuộc thi “Pháp luật học đường” năm 2019
 Thông điệp hưởng ứng “Ngày thế giới tưởng niệm các nạn nhân tử vong do tai nạn giao thông” năm 2019
 68/KH-SGDĐT: Kế hoạch tổ chức các hoạt động hưởng ứng “Ngày thế giới tưởng niệm các nạn nhân tử vong do tai nạn giao thông” trên địa bàn tỉnh Tiền Giang năm 2019
 65/KH-SGDĐT: Kế hoạch tổ chức Hội diễn văn nghệ Mừng Đảng - Mừng Xuân Canh Tý 2020
 663/QĐ-SGDĐT: Quyết định về việc thành lập các tổ báo cáo viên lớp bồi dưỡng kiến thức Bơi lội cứu đuối cho cán bộ, giáo viên năm 2019

Liên kết Liên kết

Thống Kê Truy Cập Thống Kê Truy Cập

Đang truy cập:
-
Hôm nay:
-
Tuần hiện tại:
-
Tuần trước:
-
Tháng hiện tại:
-
Tháng trước:
-
Tổng lượt truy cập:
-