Truy cập nội dung luôn

>>>> TIN VẮN

Danh sách điểm tiếp nhận hồ sơ ĐKDT thí sinh tự do kỳ thi THPT Quốc gia năm 2018: Huyện Cái Bè : Trường THPT Lê Thanh Hiền, Trường THPT Thiên Hộ Dương, Trường Trung cấp Kỹ thuật - Nghiệp vụ Cái Bè -------- Thị xã Cai Lậy: Trường Trung cấp Kinh tế Công nghệ Cai Lậy, Trường THPT Lê Văn Phẩm; Huyện Cai Lậy: Trường THPT Lưu Tấn Phát -------- Huyện Tân Phước: Trung tâm GDNN-GDTX Tân Phước, Trường THPT Nguyễn Văn Tiếp ----- Huyện Châu Thành: Trường THPT Rạch Gầm Xoài Mút ----- TP. Mỹ Tho: Trung tâm GDTX thành phố Mỹ Tho ----- Huyện Chợ Gạo: Trung tâm GDNN-GDTX Chợ Gạo, Trường THPT Thủ Khoa Huân----- Huyện Gò Công Tây: Trung tâm GDNN-GDTX Gò Công Tây, Trường THPT Long Bình -----Thị xã Gò Công: Trường THPT Gò Công----- Huyện Gò Công Đông: Trung tâm GDNN-GDTX Gò Công Đông, Trường THPT Gò Công Đông -----

Chi tiết tin


Tư liệu giảng dạy văn học địa phương: Ba bài thơ của Trịnh Hoài Đức về Tiền Giang xưa
24/10/2017

Trịnh Hoài Đức (1765-1825) có tên khác là An, tên tự Chỉ Sơn, hiệu Cấn Trai, quê ở Trấn Biên (nay là TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai), là một trọng thần của nhà Nguyễn, từng giữ chức  Ký lục dinh Trấn Định (1) năm 1794, Thượng thư bộ Hộ, Chánh sứ của đoàn Sứ thần nước ta sang nhà Thanh (Trung Quốc) năm 1802, Hiệp Tổng trấn Gia Định thành hai lần (năm 1808 và năm 1816-1819), Thượng thư Bộ Lễ kiêm quản Khâm Thiên giám năm 1812,  Thượng thư bộ Lại năm 1813 và từ năm 1820-1821, Tổng trấn Gia Định thành năm 1820, hàm Hiệp biện đại học sĩ, Thượng thư bộ Lại kiêm Thượng thư bộ Binh năm 1821, kiêm thêm Thượng thư bộ Lễ năm 1823, Tổng tài biên sửa Nguyễn triều Ngọc Điệp và Tôn Phả của Hoàng gia.

 

Tượng Trịnh Hoài Đức (Nguồn: Báo Biên Phòng)

Trong lúc làm quan to, ông rất liêm khiết, nên vẫn chưa có nhà riêng, nên năm 1823, vua Minh Mạng cấp cho 2.000 quan tiền và ngói, gỗ để ông dựng nhà ngoài cửa đông kinh thành Huế làm nơi cư trú. Ông là tác giả của nhiều bộ sách, trong đó có bộ sách địa lý học – lịch sử nổi tiếng Gia Định thành thông chí và tập thơ Cấn Trai thi tập.

Trong Cấn Trai thi tập, Trịnh Hoài Đức có 30 bài thơ ca ngợi cảnh đẹp tiêu biểu nhất ở 30 địa phương thuộc đất Gia Định xưa (Gia Định tam thập cảnh), tương ứng với Nam Bộ ngày nay, trong đó có ba bài thơ viết về đất Tiền Giang xưa mà chúng tôi xin được giới thiệu dưới đây:

- Hai bài thơ Trấn Định xuân canhMỹ Tho dạ vũ được sáng tác lúc ông làm Ký lục dinh Trấn Định năm 1794, ca ngợi cảnh đẹp thiên nhiên, tinh thần lao động hăng say và cuộc sống yên bình, an lạc của nhân dân Tiền Giang xưa:

1. Bài thứ nhất:

TRẤN ĐỊNH XUÂN CANH

Trấn Định xuân hồi biến ngạn nhai,

Dân xu Nam mẫu (2) lực tương giai.

Quán thông hồ thỉ điền trung hức,

Lê phá đào hoa vũ hậu cai.

Mục địch bối hoành ngưu trạc trạc,

Tiều ca thanh học điểu hài hài.

Đương gia lão đại cung canh chức,

Quỹ hưởng tang âm xuất tiểu oa.

Dịch thơ của Hoài Anh:

CÀY MÙA XUÂN Ở TRẤN ĐỊNH

Xuân về bến đẹp bờ tươi,

Ruộng phía nam sức bao người dồn ra.

Tưới thông mương máng chan hòa,

Sau mưa cày gốc cây già bật tung.

Trẻ chăn trâu sáo ngang lưng,

Tiếng chim hòa tiếng ca lừng tiều phu.

Người lớn dệt vải cày bừa,

Rẽ dâu, đứa trẻ cơm đưa ra đồng.

 

2. Bài thứ hai:

MỸ THO DẠ VŨ

Trạc anh (3) xướng bãi nguyệt trầm tê (tây),

Tiêu tích Tho giang (4) vũ chính thê.

Hòe thị (5) trào đôi du (6) giáp quán,

Tông kiều (7)  vân ủng thạch ngưu (8) nê.

Quang hàn liễu (9) phố ngư thuyền hỏa,

Thanh thấp mai thành (10) thú trại bề.

Vạn khoảnh minh triêu trình hợp dĩnh,

Tang lâm (11) vô sự đảo kiền tê.

Bản dịch thơ của Hoài Anh:

MƯA ĐÊM Ở MỸ THO

Khúc "giặt dải mũ" hát xong,

Nhìn ra trăng đã lặn vùng trời tây.

Chợ Hòe triều mới dâng đầy,

Quả du dồn đống phơi bày đường trơ.

Cầu Tông mây phủ mịt mờ,

Che hình trâu đá sau mưa lấm bùn.

Lửa thuyền chài bến liễu vờn,

Thành mai vọng gác trống dồn tong tong.

Sáng nom lúa trỗ đòng đòng,

Cần chi cầu đảo nhọc lòng rừng Tang.

Bản dịch thơ của Huỳnh Minh Đức:

MƯA ĐÊM Ở MỸ THO

Hát khúc "trạc anh", trăng gác tê,

Mưa đêm sông Mỹ kéo lê thê.

Nước giăng Hòe thị, du thành đống,

Mây phủ Tông kiều, trâu bị che.

Bến liễu, lửa chày soi bóng lạnh,

Thành mai, tiếng trống vọng tư bề.

Sáng mai lúa trổ tràn đồng ruộng,

Đâu phải Tang Lâm đợi mưa về

- Bài thơ Tân kinh thần mục được ra đời trong lúc ông đảm nhiệm chức vụ Hiệp Tổng trấn Gia Định thành. Ông là một trong 5 viên quan chỉ huy việc cải tạo kinh Bảo Định theo lệnh của vua Gia Long. Bài thơ được ông sáng tác sau khi công trình được hoàn tất mỹ mãn năm 1819.

* Đôi nét về lịch sử kinh Bảo Định:

Trước khi có con kinh này, tại đây đã có rạch Vũng Cù ở về phía đông bắc, chảy từ sông Vàm Cỏ Tây đến quán Thị Cai (nay thuộc thành phố Tân An, tỉnh Long An); và rạch Mỹ Tho ở về phía nam, chảy từ chợ Lương Phú (nay thuộc xã Lương Hòa Lạc, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang) ra sông Tiền. Khoảng giữa bắc – nam, tức là từ quán Thị Cai đến chợ Lương Phú là ruộng vườn liên tiếp.

Năm 1705, vâng lệnh Quốc chúa Nguyễn Phúc Chu, Chính thống Vân trường hầu Nguyễn Cửu Vân đem quân đánh dẹp quân Cao Miên ở khu vực này khi bọn chúng xâm phạm biên cảnh. Để đề phòng quân giặc tập kích, Nguyễn Cửu Vân cho đắp một phòng tuyến kéo dài từ quán Thị Cai đến chợ Lương Phú. Bên ngoài phòng tuyến, ông cho đào một con mương hào nối liền rạch Vũng Cù và rạch Mỹ Tho. Sau đó, nhân đường nước đã lưu thông, người ta đào sâu thêm, thành ra đường kinh, ghe thuyền đi lại được.

Do kinh thường bị bùn lầy làm cho nông cạn, nên năm 1819, vua Gia Long ra lệnh cho các viên quan đứng đầu thành Gia Định và trấn Định Tường huy động dân phu nạo vét và mở rộng kinh từ Thang Trông đến Húc Đồng (Hóc Đùn) – bến Mỹ Tho dài 40 dặm rưỡi (khoảng 14 km).

Công trình cải tạo kinh được tiến hành trong khoảng 3 tháng; khởi công ngày 28 tháng Giêng năm Kỹ Mão (23–2–1819); kết thúc theo ghi chép của Gia Định thành thông chí là ngày 4 tháng 4 nhuận năm Kỷ Mão (28–5–1819); theo ghi chép của bia Phụng khai tân cảng ký (Vâng mệnh ghi chép việc đào mở kinh mới) là ngày 10 tháng 4 nhuận năm Kỷ Mão (3–6–1819).

Sau khi công trình đã được hoàn thành, vua Gia Long cho tạc sự kiện này vào bia đá dựng tại Thang Trông để "truyền mãi về sau"; và đặt tên cho con kinh mới (tân kinh) là Bảo Định.

Kinh Bảo Định, ngoài việc nối với sông Vàm Cỏ Tây ở phía bắc và sông Mỹ Tho ở phía nam; còn thông lưu với 19 con rạch tự nhiên ở phía tây và phía đông, tạo nên một hệ thống kinh rạch tương đối dày đặc. Vì vậy, ngoài tác dụng về an ninh – quốc phòng, kinh Bảo Định còn có giá trị to lớn về khai hoang, thủy lợi và giao thông đường thủy. Nhờ đó, nhân dân gặp nhiều thuận lợi trong sản xuất nông nghiệp, mùa màng tươi tốt và có cuộc sống yên ấm, no đủ, hạnh phúc.

* Nội dung bài thơ:

TÂN KINH THẦN MỤC

Lạc nguyệt đề ô náo cửu cai,

Tân kinh mục tử (12) trục tương lai.

Địch xuy lô quản xâm yên tố,

Ngưu đạp vân căn (13) nhập thủy ôi.

Thảo dụ bình điền hồ khả lạp,

Tang âm lục dã lộ kham môi.

Phong niên tiếu ngạo Hy Hoàng (14) thế,

Túy ngọa hoa tùng bất thoát soa.

Bản dịch thơ của Hoài Anh:

SỚM CHĂN TRÂU Ở TÂN KINH

Trăng lặn quạ kêu rộn khoảng không,

Tân kinh mục tử ruỗi trên đồng.

Sáo bằng ống sậy vút trời thẳm,

Trâu dẫm đá chìm tới khuỷu sông.

Cỏ tốt bãi bằng, săn cáo tiện,

Dâu xanh bóng mát họp cò đông.

Được mùa ngạo thuở Hy Hoàng nhé,

Để áo, nằm say cạnh khóm hồng.

 

Mộ Trịnh Hoài Đức và Chánh thất phu nhân họ Lê

(Nguồn: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch  https://www.vhttdlkv3.gov.vn/Tu-lieu/Di-tich-Lang-Mo-Trinh-Hoai-Duc.4449.detail.aspx)

 

TUỆ MINH

------------------------------------------------------------------------------------------------------

Chú thích:

(1) Dinh Trấn Định được thành lập năm 1781, lỵ sở đặt tại đặt tại gò Kiến Định (nay thuộc thị trấn Tân Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh TG). Năm 1792, lỵ sở được dời sang thôn Mỹ Chánh – chợ Mỹ Tho (nay là khu vực Chợ Cũ thuộc các phường 2, 3, 8, TP Mỹ Tho, tỉnh TG).

(2) Nam mẫu: Xuất phát từ câu Diệp bỉ Nam mẫu (đem cơm ra đồng Nam mẫu) trong Kinh Thi của Khổng tử.

(3) Trạc anh: có nghĩa là Giặt dải mũ.

(4) Tho giang: Sông Mỹ Tho.

(5) Hòe thị: Chợ Hòe, ý chỉ chợ Mỹ Tho.

(6) Du: Dầu, mỡ (lấy từ thực vật hoặc động vật), như: "hoa sanh du" dầu đậu phộng, "trư du"  mỡ heo. Ở đây chỉ một xóm chuyên làm nghề ép dầu. Hiện nay vẫn còn địa danh Xóm Dầu ở khu vực chùa Bửu Lâm, phường 3, TP Mỹ Tho.

(7) Tông kiều: Năm 1792, chính quyền chúa Nguyễn cho xây cầu Quỳ Tông bắc ngang qua rạch Bảo Định. Năm 1801, cầu bị gỡ bỏ do nước xoáy.

(8) Thạch ngưu: Trâu đá.

(9) Liễu: ở đây chỉ cây thủy liễu, tức cây bần.

(10) Mai thành: ý chỉ thành Mỹ Tho. Thành này được xây dựng năm 1792. Sách "Gia Định thành thông chí" của Trịnh Hoài Đức viết: "(thành Mỹ Tho) … có góc cạnh lồi ra hủng vô như hình hoa mai …"

(11) Tang Lâm: Đời Thành Thang nhà Thương (Trung Quốc) bị bảy năm hạn hán, vua quan phải đến rừng Tang làm lễ cầu mưa.

(12) Mục tử: Trẻ chăn trâu.

(13) Vân căn: Gốc rễ của mây, tức là đá. Thơ thời nhà Tống có câu: "Đồn yên nhiễu phong nguyệt, tích thủy nịch vân căn", nghĩa là: Khói dồn lại làm rối loạn hang gió, nước tụ lại làm chìm đá núi.

(14) Hy Hoàng: là hai vị vua Phục Hy và Hoàng Đế thời cổ đại ở Trung Quốc. Dưới thời hai vị vua này, xã hội ổn định, thạnh trị, ý chỉ sự thái bình.

 

 

 

 

Văn bản mới Văn bản mới

VĂN BẢN MỚI
 TÀI LIỆU SINH HOẠT NGÀY PHÁP LUẬT SỐ 05/2018.
 544/SGDĐT-TCCB: V/v lập hồ sơ giáo viên đủ tiêu chuẩn, điều kiện tham dự kỳ xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp giáo viên mầm non, phổ thông công lập.
 51 /KH-SGDĐT: Kế hoạch cuộc thi viết tiểu phẩm tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật ngành Giáo dục và Đào tạo năm 2018.
 V/v thông tin trao tặng 10 suất học bổng hợp tác cho sinh viên thường trú tại tỉnh Tiền Giang

Tin Ảnh Tin Ảnh

Liên kết Liên kết

Thống kê Thống kê

  Đang truy cập : 4
  Hôm nay: 891
  Tổng lượt truy cập: 5262730