Truy cập nội dung luôn

>>>> TIN VẮN

8 giờ sáng ngày Chủ Nhật 21/10/2018 tại Trường THPT Nguyễn Đình Chiểu, TP. Mỹ Tho: Báo Mực Tím tổ chức giao lưu với học sinh Tiền Giang kỷ niệm 30 năm thành lập Báo Mực Tím------11/11/2018: Khởi động chương trình "Đường đến vinh quang" năm thứ X - năm học 2018-2019

Chi tiết tin

Tư liệu giảng dạy Lịch sử trong nhà trường: Buôn bán thóc gạo ở Tiền Giang và Nam Bộ trong các thế kỷ XVII, XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX
23/05/2017

Trong các thế kỷ XVII và XVIII, ở Nam bộ, do tốc độ khai hoang được đẩy mạnh và diện tích canh tác ngày càng được gia tăng, do ruộng đất được tập trung khá cao độ, do chính sách thông thoáng của chính quyền chúa Nguyễn; nên nông sản, chủ yếu là thóc gạo, được sản xuất ngày càng dồi dào, đòi hỏi phải có thị trường tiêu thụ.

Theo Litana trong quyển Xứ Đàng Trong: lịch sử kinh tế – xã hội Việt Nam thế kỷ XVII và XVIII, thóc gạo ở Nam bộ trở thành hàng hóa, được bán đi khắp nơi sớm nhất là từ đầu thế kỷ XVIII(1).

 

Chợ Cũ thời Pháp thuộc (Nguồn: Văn nghệ Tiền Giang Online)

http://vannghetiengiang.vn/news/Dat-va-nguoi-Tien-Giang/Tan-man-ve-My-Tho-xua-1428/

 

1. THÓC GẠO TRỞ THÀNH HÀNG HÓA:

1.1 Trong thế kỷ XVIII, thóc gạo được vận chuyển ra bán ở Phú Xuân – Thuận Hóa. Lê Quý Đôn viết : "Miền Gia Định có rất nhiều thóc lúa ... Hàng năm, cứ đến tháng 11 và tháng chạp, người ta thường xay, giã thóc lúa thành gạo đem đi bán lấy tiền tiêu dùng vào những lễ tiết chạp. Những lúc bình thường, người ta chuyên chở gạo thóc ra bán tại thành Phú Xuân để đổi chác hay mua sắm những hàng vóc nhiễu, trừu đoạn của người Tàu" (2).

Từ đó, giới thương buôn chuyên kinh doanh thóc gạo được hình thành. Những người này thường đi thuyền lớn từ miền Trung vào neo đậu tại các cửa biển hoặc tại các thương cảng, phố chợ lớn; rồi cho thuyền nhỏ đi khắp nơi để thu mua thóc gạo(3). Điển hình là Đồng Châm (hay Trùm Châm). Ông là người thôn Chính Hòa, châu Nam Bố Chánh. Khoảng từ năm 1760 trở đi, ông đã nhiều lần vào Gia Định buôn thóc gạo. Việc kinh doanh của Đồng Châm được Lê Quý Đôn ghi chép rất kỹ trong Phủ biên tạp lục. Đoạn ghi chép đó(4), xin được phân tích như sau :

- Thời điểm đi và về : tháng 9, 10 đi; tháng 4, tháng 5 về. Như vậy, thời gian Đồng Châm lưu trú ở Gia Định để thu mua thóc gạo là khoảng 6 tháng. Mỗi năm, ông ta chỉ thực hiện được một chuyến vào Gia Định. Lê Quý Đôn cho biết, Đồng Châm đi buôn tổng cộng được hơn 10 chuyến. Do đó, việc kinh doanh của thương buôn này được tiến hành hơn 10 năm.

- Thời gian thuyền đi trên biển để vào Gia Định : nếu gặp gió thuận, thời tiết tốt, thuyền đi không quá 10 ngày đêm sẽ vào đến Gia Định.

- Hải trình từ châu Nam Bố Chánh vào Gia Định :

+ Thuyền qua cửa biển Nhật Lệ (nay thuộc tỉnh Quảng Bình) trình quan Trấn thủ,

+ Sau đó, đến cửa Yêu (còn gọi là cửa Bạt Lộ, nay thuộc tỉnh Quảng Trị) trình quan Tào vận, để nhận lãnh giấy phép đi biển. Từ cửa Nhật Lệ đến cửa Yêu, thuyền đi mất một ngày đêm và 6 trống canh,

+ Cuối cùng, đến đầu địa giới Gia Định là xứ Vũng Tàu,  thuyền  dừng lại để nghỉ ngơi; và hỏi thăm nơi nào mất mùa, nơi nào trúng mùa. Sau khi biết chắc chắn địa phương nào được mùa lúa thóc, mới cho thuyền đi vào địa phương ấy để thu mua.

- Các địa điểm buôn bán thóc gạo : tại các cửa biển Cần Giờ, Xoài Rạp (nay thuộc thành phố Hồ Chí Minh), cửa Tiểu (nay thuộc tỉnh Tiền Giang), cửa Đại (nay thuộc tỉnh Bến Tre).

- Cảnh mua bán :

Lê Quý Đôn mô tả cảnh mua bán vô cùng nhộn nhịp: "Đến những địa điểm trên, người ta đã trông thấy buồm thuyền mành đậu xúm xít kề nhau, tấp nập tại bến. Hai bên mua bán thóc gạo đã thương lượng với nhau và bàn định giá cả lúa thóc xong rồi, bấy giờ người bán sai các trẻ nhỏ hay đứa ở làm công việc khiêng gánh lúa thóc và vận chuyển xuống thuyền người mua" (5).

- Giá thóc :

+ Một tiền (tức 10 đồng) đong được 16 đấu thóc.

+ Một quan tiền đong được 300 bát đồng của nhà nước (tức 30 bát của địa phương).

Theo Lê Quý Đôn, "giá thóc rẻ, các nơi khác chưa từng có". Điều này phù hợp với những số liệu của Ngô Thế Lân trong bài Luận về tiền tệ được viết khoảng năm 1770 về giá thóc ở các địa phương thuộc Đàng Trong(6):

Do đó, với giá thóc ở Gia Định rẻ như vậy, hoạt động kinh doanh thóc gạo của Đồng Châm thu được lợi nhuận lớn. Món hời đó cũng đã kích thích rất nhiều thương buôn khác. Từ đó, thuyền buôn chở thóc gạo ra bán ở Phú Xuân ngày càng nhiều. Năm 1768, có 341 chiếc(7); năm 1774, có hơn 1.000 chiếc(8). Nếu bình quân mỗi chiếc thuyền có thể chở được 50 – 100 tấn thì số gạo ấy phải lên đến hàng trăm ngàn tấn.

Ngoài số thóc gạo hàng hóa của nhân dân, chính quyền chúa Nguyễn còn có một khối lượng lớn thóc gạo được trữ  trong các kho của nhà nước. Đó là số thóc thuế do dân đóng; như thóc thuế của hai trường Tam Lạch và Bả Canh ở Mỹ Tho nộp vào kho Định Viễn(9).

Hàng năm, một phần thóc thuế các kho địa phương được chở về trữ ở các kho thuộc sự quản lý của trung ương, như thóc thuế của kho Định Viễn được chuyên chở về kho Thọ Khang thuộc phường Thọ Khang, huyện Phú Vang (Phú Xuân) (10). Sách Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn cho biết, năm 1768, có 7 chiếc thuyền của phủ Gia Định về Phú Xuân nộp thóc thuế; và số thóc này lên đến hàng ngàn tấn. Tất cả các thuyền chở thóc về nộp kho trung ương đều trưng dụng của dân. Nhưng đổi lại, người có thuyền được trưng dụng thì được hưởng một số quyền lợi, như khỏi phải nộp thuế di chuyển cả năm; được cấp phát tiền đi đường và cúng lễ cầu gió(11), v.v...

Như vậy, Nam bộ là nơi cung cấp lúa gạo chủ yếu cho vùng Thuận Hóa và cả miền Trung. Pierre Poivre trong nhật ký ngày 27-2-1749 viết : "Hiện nay, Đồng Nai (chỉ Nam bộ - Người viết) là một vựa lúa của cả xứ Đàng Trong. Vùng này đã cung cấp cho toàn xứ một khối lượng lớn về thóc" (12). Quyển Lịch sử khai phá vùng đất Nam bộ do Huỳnh Lứa chủ biên cũng cho rằng: "vùng đồng bằng sông Cửu Long, ngay từ rất sớm, đã là vựa lúa lớn, sản xuất thóc gạo dư thừa, so với nhu cầu lương thực tại chỗ. Lúa gạo sản xuất được ở đây, ngoài việc thỏa mãn nhu cầu lương thực của nhân dân tại chỗ, còn được đem bán đi các nơi khác ở trong nước, chủ yếu là các phủ phía ngoài của xứ Đàng Trong, nhất là xứ Thuận Hóa" (13). Lâm Quang Huyên, trong luận văn 300 năm kinh tế Sài Gòn – thành phố Hồ Chí Minh, cho biết: "Thóc gạo từ Nam chuyển ra miền Trung là nhiều; nhưng không tính được số lượng cụ thể" (14).

Chính nhờ vậy, xứ Đàng Trong mới có đủ lương thực cung ứng cho nhân dân, mặc dù vùng Thuận Hóa và Quảng Nam có sự gia tăng dân số liên tục; và đặc biệt là; từ đầu thế kỷ XVIII, khỏi phải nhập khẩu thóc gạo từ Xiêm và Cao Miên(15). Phải nói rằng, từ thế kỷ XVIII, Nam bộ đã góp phần tích cực vào việc đảm bảo an ninh lương thực cho đất nước; và không chỉ thế, còn tạo điều kiện cho hoạt động ngoại thương, nhất là việc xuất khẩu thóc gạo, có sự phát triển mạnh mẽ.

Lúc bấy giờ, thóc gạo của Nam bộ còn được xuất khẩu ra nước ngoài, nhất là thị trường Trung Quốc. Sách Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn cho biết : "Tại phủ Gia Định, lúa thóc không biết bao nhiêu mà kể, các khách buôn người Tàu thường tới những nơi ấy mua bán đã quen thuộc, ai cũng tấm tắc khen ngợi" (16). Tháng 6 -1789, Nguyễn Ánh cho phép các thương gia Trung Quốc đến mua gạo ở Gia Định; đổi lại, họ mang sắt, gang, lưu huỳnh, vốn là những nguyên liệu để chế tạo vũ khí, tới bán.(17)

Về số lượng gạo được xuất khẩu theo con đường này, theo Trần Ngọc Định dẫn lại từ P. Vial trong Les premières années de la Cochinchine, vào những năm 90 của thế kỷ XVIII, hàng năm, có khoảng 12.000 tấn thóc gạo đã được bán ra nước ngoài bởi các thương buôn Trung Quốc(18). Thông qua việc buôn bán như vậy, thương buôn Trung Quốc thu được lợi nhuận không nhỏ; còn Nguyễn Ánh thì có nguyên liệu để chế tạo vũ khí, phục vụ cho việc tranh chấp với nhà Tây Sơn. Sách Quốc triều chánh biên toát yếu cho biết: "Từ đó, người buôn vui việc buôn bán, các đồ binh khí cũng được dồi dào" (19). Đồng thời, Nguyễn Ánh còn dùng thóc gạo làm phương tiện để thiết lập quan hệ chính trị – ngoại giao với một số nước, như Trung Quốc, Xiêm, Macau, Philippines, Ấn Độ, Batavia, Malacca.

 1. 2. Trong nửa đầu thế kỷ XIX, thóc gạo vẫn là mặt hàng nông sản chủ yếu của Nam bộ được buôn bán rộng rãi trên thị trường. Một trong những vùng sản xuất thóc gạo nổi tiếng hồi bấy giờ là Gò Công và Chợ Gạo (nay thuộc tỉnh Tiền Giang). Trịnh Hoài Đức cho biết "Gò Khổng Tước, tục gọi là Gò Công, có gò đất ruộng tốt, lúa gạo nhiều" (20) và "huyện Kiến hòa đất rộng phì nhiêu, mênh mông bát ngát. Nhiều người lo việc canh nông làm gốc, trong nhà có vựa chứa lúa gạo đầy dẫy" (21). Một tài liệu của Pháp vào giữa thế kỷ XIX cũng ghi tương tự: "Gò Công là một địa phương mà các nhà vua An Nam xem như vú sữa của vương quốc ... Gạo Gò Công luôn luôn được ưa chuộng bởi chất lượng và hương vị của nó" (22)

Tuy Nam bộ là nơi sản xuất nhiều thóc gạo; nhưng do mức độ sản xuất và tình hình mùa màng mỗi địa phương một khác; nên không phải nơi nào cũng có thóc gạo dư thừa để bán. Vì thế, việc buôn bán giữa các địa phương thừa và thiếu thóc gạo ở Nam bộ là điều tất yếu. Ví như năm 1844, tỉnh Biên Hòa bị mất mùa, giá gạo tăng vọt; nên thương nhân ở một số tỉnh Nam bộ vận chuyển thóc gạo đến đây bán(23); hoặc như thóc gạo của tỉnh Định Tường thường xuyên được chở đến bán ở các địa phương tiếp giáp biên giới với Cao Miên thuộc tỉnh Hà Tiên(24).

Đồng thời, nhà nước còn đứng ra mua gạo của một số tỉnh ở Nam bộ để trữ ở các kho nhằm cấp phát hay bán với giá hạ cho những nơi không may gặp thiên tai, mất mùa; như năm 1833, chuyển đến An Giang 5.000 phương (vuông)  gạo(25); năm 1841 cấp phát và bán với giá hạ 4.000 phương gạo cho Biên Hòa và 3.000 phương gạo cho Hà Tiên, để chống tình trạng biến động giá gạo ở hai nơi này(26).

Đồng thời, Nam bộ vẫn là nơi cung cấp thóc gạo cho miền Trung với số lượng lớn. Năm 1836, vua Minh Mạng đã nói lên điều đó: "Các hạt Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận, đất cấy lúa không bằng Gia Định, nhân dân ăn nhờ vào gạo miền Nam" (27).

Được biết, dưới thời Minh Mạng (1820 – 1840), số ghe thuyền buôn bán giữa Nam kỳ và Trung kỳ, mỗi năm là 2.000 chiếc(28). Năm 1853, hai tỉnh Định Tường và An Giang bán 48.000 phương gạo ra các tỉnh Trung kỳ(29). Việc buôn bán thóc gạo chủ yếu do tư nhân tiến hành.

Tuy nhiên, nhà nước cũng xuất công quỹ mua gạo của Nam bộ chở ra dự trữ tại các kho ở Trung kỳ để phòng khi đói kém, như năm 1836, mua 10.000 phương gạo của tỉnh Định Tường mang ra trữ tại kho Khánh Hòa(30). Năm 1857, các đại thần của triều Nguyễn là Trương Đăng Quế, Nguyễn Tri Phương, Phan Thanh Giản, Tôn Thất Cáp đồng thanh tâu lên vua Tự Đức: "Các tỉnh Gia Định, Vĩnh Long, Định Tường gạo nhiều, mà các tỉnh Nam trực, Tả kỳ (tức là các tỉnh từ Quảng Nam đến Bình Thuận - Người viết), kho tàng chứa gạo ít lắm, xin thuê thuyền buôn vận chở gạo ra trữ cho đủ dùng"; và đề nghị ấy đã được chuẩn y(31). Một năm sau (1858), 90.000 phương gạo và 100.000 quan tiền của Định Tường được chuyển về kinh đô Huế(32).

Thông qua việc buôn bán thóc gạo, giới thương buôn thu được các khoản lợi nhuận đáng kể; bởi vì giá thóc gạo ở Nam kỳ thấp hơn giá thóc gạo ở Trung kỳ và Bắc kỳ(33):

Giống như ở các thế kỷ trước, trong nửa đầu thế kỷ XIX, bên cạnh tiêu thụ nội địa, thóc gạo của Nam bộ còn tham gia vào thị trường xuất khẩu. Nhận định về vấn đề này, Trần Ngọc Định trong luận văn Chế độ sở hữu ruộng đất lớn ở Nam kỳ thời kỳ Pháp thống trị, viết: "Ngay dưới thời phong kiến, trước khi đế quốc Pháp xâm lược, tuy việc trao đổi còn hạn chế, thương mại chưa được phát triển cao; nhưng do ruộng đất ở Nam bộ đã tập trung khá sớm, nên đại địa chủ ở Nam bộ đã nắm được rất nhiều lúa gạo và cũng từng xuất cảng được lúa gạo" (34).

Theo tài liệu của một người Anh tên là Crawfurd đến Sài Gòn khoảng năm 1820 cho biết, tại Sài Gòn, hàng năm có khoảng 30 thuyền buôn Trung Quốc với trọng tải tổng cộng khoảng 6.500 tấn đến buôn bán; và khi rời bến thì những chiếc tàu buôn này chở đi chủ yếu là thóc gạo(35).

Mặc dù nhà Nguyễn ra sức cấm đoán, nhưng các thương gia Việt Nam vẫn lén lút chở thóc gạo đến bán tại các cảng ở Java (Indonésia), Lữ Tống (Philippines), nhất là ở Singapore. Cũng theo tài liệu của Crawfurd, từ năm 1821, hàng năm có khoảng 26 chiếc ghe buồm của Việt Nam với trọng tải tổng cộng khoảng 4.000 tấn đến Singapore. Theo tài liệu của Natalis Rondot, từ năm 1835 đến năm 1839, có 42 chiếc thuyền ở Nam kỳ đến Singapore, trọng tải tổng cộng là 2.980 tôn-nô và 33 chiếc thuyền nhổ neo đi, trọng tải tổng cộng là 2.280 tôn-nô(36). Còn theo tài liệu của Litana, số lượng gạo nhập khẩu của Singapore từ Sài Gòn tương đương với số lượng gạo nhập từ Xiêm La(37).

2. SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG CHỢ BUÔN BÁN THỐC GẠO:

Do buôn bán thóc gạo phát triển thịnh đạt; nên ở Nam bộ đã xuất hiện những ngôi chợ kinh doanh thóc gạo nói riêng và có hoạt động nội - ngoại thương nói chung rất nhộn nhịp.

Ở dinh Trấn Định (nay thuộc tỉnh Tiền Giang), nổi tiếng nhất là chợ phố lớn Mỹ Tho (Mỹ Tho đại phố) được thành lập năm 1679. Đây là một trong những trung tâm thương mại lớn nhất được thành lập đầu tiên ở Nam bộ. Chợ phố lớn Mỹ Tho được dựng lên ở nơi hợp lưu giữa sông Mỹ Tho và kênh Vũng Cù; nên có sức quy tụ ghe thuyền, vật lực từ các địa phương khác đến nơi đây; và từ đó lan tỏa ra khắp nơi, nhất là thông thương với các trung tâm thương mại khác, như Sài Gòn, Phú Xuân, v.v... và cả với nước ngoài. Chính vì vậy, trong quyển Gia Định thành thông chí, Trịnh Hoài Đức chép về sự phồn thịnh của ngôi chợ này như sau : "Phía nam trị sở là chợ phố lớn Mỹ Tho, nhà ngói cột chạm, đỉnh cao, chùa rộng, ghe thuyền ở các ngả sông biển đến đậu đông đúc, làm một đại đô hội, rất phồn hoa, huyên náo" và "phàm thuyền buôn các nơi qua lại phải đậu nghỉ ở sông Mỹ Tho, hóng mát, xem trăng, đợi con nước lên, thuận dòng lên tây hay xuống đông". Đồng thời, ở đây còn có một ngôi chợ chuyên kinh doanh thóc gạo, nổi tiếng cả Nam bộ. Đó là chợ Gạo (nay thuộc huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang). Theo quyển Địa phương chí tỉnh Mỹ Tho năm 1902 (Monographie de la province de Mitho 1902), chợ này do ông Trần Văn Giồng lập dưới thời vua Cảnh Hưng (1744 – 1786). Ngoài ra, còn có nhiều chợ khác nữa như chợ Lương Phú, chợ Thanh Sơn (chợ Cai Lậy),  chợ Gò Công, chợ An Bình Đông (chợ Cái Bè), v.v...

Dinh Trấn Biên (nay thuộc tỉnh Đồng Nai) có Nông Nại đại phố (tức cù lao Phố) được thành lập cùng lúc với chợ phố lớn Mỹ Tho (Mỹ Tho đại phố). Sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức cho biết: "Lúc đầu khai thác, tướng quân Trần Thượng Xuyên chiêu tập người buôn nước Tàu đến kiến thiết phố xá, mái ngói tường vôi, lầu cao quán rộng, dọc theo bờ sông liên lạc tới 5 dặm, chia vạch làm ba đường phố, đường phố lớn lót đá trắng, đường phố ngang lót đá ong, đường phố nhỏ lót gạch xanh, đường rộng bằng thẳng, kẻ buôn tụ tập, ghe thuyền lớn ở biển và ở sông đến đậu neo, có những bè gỗ liên tiếp nhau, ấy là một chỗ đại đô hội, những nhà buôn bán lớn duy ở đây là nhiều hơn". Ngoài ra, ở đây còn có một số ngôi chợ lớn khác, như chợ Bà Rịa với "nhà cửa liên lạc, giao thông cả đường thủy và đường bộ, là một chợ lớn nơi miền biển"; chợ Bình Quý có "ghe thuyền sông biển đến đậu nối đuôi nhau, người ở đấy chuẩn bị đò dài hoặc vắn, đi theo dòng nước bán đồ hoa quả thực vật".

Ở dinh Phiên Trấn (nay thuộc thành phố Hồ Chí Minh), có chợ Sài Gòn rất sung thịnh. Trịnh Hoài Đức mô tả chợ này như sau: "phố xá liên tiếp, người Tàu và người Việt ở chung lộn dài khoảng ba dặm. Hàng hóa trong các phố bày bán có: gấm, đoạn, đồ sứ, giấy, châu báu, sách vở, thuốc Bắc, trà ... Những hóa vật ở Nam Bắc theo đường sông biển chở đến không thiếu món nào ... ấy là một chợ phố lớn và đô hội náo nhiệt". Theo ghi chép của John White, một người Mỹ đến Sài Gòn vào đầu thế kỷ XIX, hoạt động của chợ Sài Gòn được mô tả như sau : "Khắp nơi, người ta tìm thấy vô số những vật mà người bản xứ dùng. Có lẽ chẳng có nước nào sản xuất nhiều trầu, cau hơn. Cá khô hay tươi, gạo, khoai lang với phẩm chất tuyệt hảo, bắp, mục măng luộc, đường thô, chuối, cam, bưởi, lựu, thuốc lá ê hề. Người ta bán thịt lợn tại tất cả các chợ. Thịt cá sấu rất được ưa thích" (38). Vì nơi đây là địa bàn trung tâm của Nam bộ nên còn có nhiều chợ lớn khác nữa, như chợ Bến Thành, chợ Cây Da, chợ Phố Bến Sạn, chợ Điều Khiển, chợ Tân Kiểng, v.v...

Ở dinh Long Hồ có chợ Long Hồ (nay thuộc tỉnh Vĩnh Long) được lập năm 1732 có "phố xá liên lạc, hàng hóa đủ cả trăm món, dài đến 5 dặm, ghe thuyền đậu sát bến, các nơi đình quán đoàn ca náo nhiệt, ấy là chợ phố lớn" (Gia Định thành thông chí); chợ Sa Đéc (nay thuộc tỉnh Đồng Tháp) với "phố chợ dọc theo bờ sông, nhà cửa hai bên liên tiếp 5 dặm, dưới sông có những bè tre đậu sát với nhau, hoặc bán hàng lụa, khí dụng ở Nam Bắc chở đến, hoặc bán dầu rái, than, tre, mây, v.v... trên bờ và dưới sông trăm thức hàng hóa tốt đẹp, thật là thánh địa phồn hoa vậy" (Gia Định thành thông chí).

Trấn Hà Tiên được hình thành năm 1708. Theo sách Gia Định thành thông chí, chợ có "đường lối tiếp giáp, phố xá liên lạc, người Việt, người Tàu, người Cao Miên, người Đồ Bà đều theo chủng loại cư trú, ghe thuyền ở sông biển qua lại nơi đây không dứt, thật là một đại đô hội ở nơi góc biển vậy".

*

*     *

Do việc khai khẩn của lưu dân vào buổi đầu còn dễ dàng; hơn nữa, chính quyền chúa Nguyễn có những chính sách thông thoáng, cởi mở, chưa có pháp chế chặt chẽ; nên ở Nam bộ lúc bấy giờ chỉ có một loại hình sở hữu ruộng đất là tư điền, tư thổ mà thôi. Lúc đầu, tư điền, tư thổ của người nông dân tự canh giữ vị thế chủ yếu. Nhưng về sau, quá trình tích tụ ruộng đất dần dần được diễn ra. Một số "nhà giàu" có vốn liếng, có nhân lực bằng nhiều phương cách đã bắt đầu bao chiếm ruộng đất; và từ đó hình thành nên giai cấp địa chủ.

Trên cơ sở một nền nông nghiệp lúa nước phát triển; nhất là, dựa trên chế độ tư hữu ruộng đất một cách triệt để; ngay từ rất sớm, nền nông nghiệp ở Nam bộ đã mang tính chất sản xuất hàng hóa; đó là một nét phát triển rất riêng của Nam bộ; mặc dù nước ta lúc bấy giờ vẫn còn là một nước phong kiến, trong đó kinh tế tự cung tự cấp giữ địa vị thống trị. Nông sản, nhất là thóc gạo, đã đáp ứng đầy đủ cho thị trường tại chỗ; mà còn dôi ra với số lượng lớn, trở thành hàng hóa được buôn bán, trao đổi trên thị trường trong và ngoài nước. Trên cơ sở đó, ở Nam bộ đã xuất hiện những trung tâm thương mại nổi tiếng khắp cả nước và quốc tế, tiêu biểu là chợ phố lớn Mỹ Tho (Mỹ Tho đại phố), chợ Gạo, chợ An Bình Đông, chợ cù lao Phố (Nông Nại đại phố), chợ Sài Gòn, cảng thị Hà Tiên, v.v...

Chính vì vậy, sản xuất nông sản hàng hóa ở Nam bộ đã có sự phát triển mạnh mẽ, mà nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu cho rằng, đó là "nền kinh tế phát triển nhất nước" và là "một nền kinh tế mang dấu hiệu của phương thức sản xuất tiền tư bản chủ nghĩa" (39).

Tiến sĩ  Nguyễn Phúc Nghiệp

Trưởng phòng Lịch sử Đảng - Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Tiền Giang

--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

CHÚ THÍCH:

(1) Litana, Xứ Đàng Trong: Lịch sử kinh tế – xã hội Việt Nam thế kỷ XVII và XVIII, Nguyễn Nghị dịch, NXB Trẻ, 1999, trang 123.

(2) Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục (tập 2), bản dịch của Lê Xuân Giáo, Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa, Sài Gòn, 1973, trang 441,  77, 85, 418.

(3) Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục (tập 2), bản dịch của Lê Xuân Giáo, Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa, Sài Gòn, 1973, trang 441.

(4) , (5) Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục (tập 1), bản dịch của Lê Xuân Giáo, Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa, Sài Gòn, 1972, trang 223, 223.

(6) Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng, Nguyễn Công Bình (chủ biên), Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh, tập 1: Lịch sử, NXB TP Hồ Chí Minh, 1988, trang 160.

(7) Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục (tập 2), bản dịch của Lê Xuân Giáo, Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa, Sài Gòn, 1973, trang 85.

(8) Lê Văn Năm, Sản xuất hàng hóa và thương nghiệp ở Nam bộ thế kỷ XVII – XIX, tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 3,4,5,6/1988.

(9) Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục (tập 2), bản dịch của Lê Xuân Giáo, Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa, Sài Gòn, 1973, trang 81.

(10) Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục (tập 2), bản dịch của Lê Xuân Giáo, Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa, Sài Gòn, 1973, trang 77.

(11) Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục (tập 2), bản dịch của Lê Xuân Giáo, Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa, Sài Gòn, 1973, trang 441, 81, 77,

(12) , (13) Huỳnh Lứa (chủ biên), Lịch sử khai phá vùng đất Nam bộ, NXB TP Hồ Chí Minh, 1981, trang 80, 84.

(14) , (15) Lâm Quang Huyên, "300 năm kinh tế Sài Gòn – thành phố Hồ Chí Minh", Kỷ yếu Hội thảo khoa học Góp phần tìm hiểu lịch sử văn hóa – lịch sử 300 năm Sài Gòn – thành phố Hồ Chí Minh, NXB Trẻ, 1998, trang 210, 215.

(16) Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục (tập 2), bản dịch của Lê Xuân Giáo, Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa, Sài Gòn, 1973, trang 116.

(17) Quốc sử quán triều Nguyễn, Quốc triều chính biên toát yếu, NXB Thuận Hóa, 1998, trang 29.

(18) Trần Ngọc Định, Chế độ sở hữu ruộng đất lớn ở Nam bộ thời kỳ Pháp thống trị, tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 132/ 1970.

(19) Quốc sử quán triều Nguyễn, Quốc triều chính biên toát yếu, NXB Thuận Hóa, 1998, trang 29.

(20) Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí (tập thượng), bản dịch của Tu Trai Nguyễn Tạo, Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa, Sài Gòn, 1972, trang 58.

(21) Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí (tập hạ), bản dịch của Tu Trai Nguyễn Tạo, Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa, Sài Gòn, 1972, trang 22.

(22) Monographie de la province de Gocong, 1936.

(23) , (24) Lê Văn Năm, Sản xuất hàng hóa và thương nghiệp ở Nam bộ thế kỷ XVII – XIX, tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 3,4,5,6/1988.

(25) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, tập 13, bản dịch của Viện Sử học, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1968, trang104.

(26) Lê Văn Năm, Sản xuất hàng hóa và thương nghiệp ở Nam bộ thế kỷ XVII – XIX, tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 3,4,5,6/1988.

(27) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, tập 10, bản dịch của Viện Sử học, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1967, trang 35.

(28) Huỳnh Lứa (chủ biên), Lịch sử khai phá vùng đất Nam bộ, NXB TP Hồ Chí Minh, 1981, trang 155.

(29) Quốc sử quán triều Nguyễn, Quốc triều chính biên toát yếu, NXB Thuận Hóa, 1998, trang 403.

(30) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, tập 19, bản dịch của Viện Sử học, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1971, trang 72.

(31) Quốc sử quán triều Nguyễn, Quốc triều chính biên toát yếu, NXB Thuận Hóa, 1998, trang  413.

(32) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, tập 28, bản dịch của Viện Sử học, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1973, trang 370.

(33) Vũ Văn Quân, Về nguyên nhân bùng nổ của phong trào nông dân Việt Nam, tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 6 (301).

(34) Trần Ngọc Định, Chế độ sở hữu ruộng đất lớn ở Nam bộ thời kỳ Pháp thống trị, tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 132/ 1970.

(35) Lê Văn Năm, Sản xuất hàng hóa và thương nghiệp ở Nam bộ thế kỷ XVII – XIX, tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 3,4,5,6/1988.

(36) Thành Thế Vỹ, Ngoại thương Việt Nam hồi thế kỷ XVII, XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX, NXB Sử học, Hà Nội, 1961, trang 14.

(37) Litana, Xứ Đàng Trong: Lịch sử kinh tế – xã hội Việt Nam thế kỷ XVII và XVIII, Nguyễn Nghị dịch, NXB Trẻ, 1999, trang 72.

(38) Nhiều tác giả, Sài Gòn xưa và nay, NXB Trẻ, 1998, trang 321.

(39) Nguyễn Đình Đầu, Chế độ công điền công thổ trong lịch sử khẩn hoang lập ấp ở Nam kỳ lục tỉnh, Hội Sử học Việt Nam, Hà Nội, 1992, trang 57.

----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

[1] Phan An, "Người Hoa ở Nam Trung bộ và Nam bộ thế kỷ XVII – XIX", sách Nam bộ: Đất và Người, tập VI, Nxb Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, 2008.

[2] Borri, Cristophoro, Xứ Đàng Trong năm 1621, bản dịch của Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên và Nguyễn Nghị, Nxb TP Hồ Chí Minh, 1998.

[3] Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, bản dịch của Viện Sử học, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1960-1961.

[4] Nguyễn Đình Đầu, Chế độ công điền công thổ trong lịch sử khẩn hoang lập ấp ở Nam kỳ lục tỉnh, Hội Sử học Việt Nam, Hà Nội, 1992.

[5] Nguyễn Đình Đầu, Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn: Định Tường, Nxb TP Hồ Chí Minh, 1994.

[6] Nguyễn Đình Đầu, Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn: Gia Định , Nxb TP Hồ Chí Minh, 1994.

[7] Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục (tập 1), bản dịch của Lê Xuân Giáo, Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa, Sài Gòn, 1972.

[8] Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục (tập 2), bản dịch của Lê Xuân Giáo, Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa, Sài Gòn, 1973.

[9] Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí (tập thượng), bản dịch của Tu Trai Nguyễn Tạo, Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa, Sài Gòn, 1972.

[10] Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí (tập trung), bản dịch của Tu Trai Nguyễn Tạo, Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa, Sài Gòn, 1972.

[11] Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí (tập hạ), bản dịch của Tu Trai Nguyễn Tạo, Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa, Sài Gòn, 1972.

[12] Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng, Nguyễn Công Bình (chủ biên), Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh, tập 1; Lịch sử, Nxb TP Hồ Chí Minh, 1987.

[13] Lâm Quang Huyên, 300 năm kinh tế Sài Gòn – thành phố Hồ Chí Minh, Kỷ yếu Hội thảo khoa học "Góp phần tìm hiểu lịch sử văn hóa – lịch sử 300 năm Sài Gòn – thành phố Hồ Chí Minh", NXB Trẻ, 1998.

[14] Litana, Xứ Đàng Trong: Lịch sử kinh tế – xã hội Việt Nam thế kỉ 17 và 18, bản dịch của Nguyễn Nghị, Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh, 1999.

[15] Phạm Phú Lữ, "Trần Thượng Xuyên với quá trình khai khẩn, phát triển và bảo vệ thành quả khẩn hoang vùng Đồng Nai – Gia Định", sách Nam bộ: Đất và Người, tập 5, Nxb Trẻ, 2007.

[16] Huỳnh Lứa (chủ biên), Lịch sử khai phá vùng đất Nam bộ, Nxb TP Hồ Chí Minh, 1987.

[17] Trần Thị Thu Lương, Chế độ sở hữu và canh tác ruộng đất ở Nam bộ nửa đầu thế kỷ XIX, Nxb TP Hồ Chí Minh, 1994.

[18] Monographie de la province de Mitho, 1902.

[19] Monographie de la province de Gocong, 1936.

[20] Sơn Nam, Đất Gia Định xưa, Nxb TP Hồ Chí Minh, 1984.

[21] Sơn Nam, Lịch sử khẩn hoang miền Nam, Nxb Trẻ, 1997.

[22] Lê Văn Năm, "Sản xuất hàng hóa và thương nghiệp ở Nam bộ thế kỷ XVII – XIX", Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 3 – 4, 1988.

[23] Nhiều tác giả, Sài Gòn xưa và nay, NXB Trẻ, 1998.

[24] Châu Đạt Quan, Chân Lạp phong thổ ký, bản dịch của Lê Hương, Sài Gòn, 1970.

[25] Nguyễn Phan Quang, Việt Nam - thế kỷ XIX, Nxb TP Hồ Chí Minh, 1999.

[26] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (tập 2), Bản dịch của Viện Sử học, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1966.

[27] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, tập 5, Nxb Thuận Hóa, 1997.

[28] Quốc sử quán triều Nguyễn, Quốc triều chánh biên toát yếu, Nxb Thuận  Hóa, 1998.

[29] Trương Ngọc Tường, Làng xã cổ truyền ở Nam bộ qua Minh điều hương ước, Tạp chí Xưa và Nay, số 58 B, 1998.

[30] Trương Ngọc Tường, "Một số địa danh ở Tiền Giang", sách Tiền Giang bước vào thế kỷ XXI, Nxb Văn Nghệ TP Hồ Chí Minh, 2001.

 [31] Thành Thế Vỹ, Ngoại thương Việt Nam hồi thế kỷ XVII, XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX, NXB Sử học, Hà Nội, 1961.

---------------------

 

 

Cỡ chữ
Tương phản
Đánh giá bài viết(0/5)

Văn bản mới Văn bản mới

VĂN BẢN MỚI
 Tài liệu sinh hoạt ngày pháp luật số 10/2018
 V/v thông tin đến học sinh kế hoạch giao lưu kỷ niệm 30 năm thành lập Báo Mực Tím tại Trường THPT Nguyễn Đình Chiểu
 Danh sách 28 học sinh nhận học bổng “Vì tương lai Việt Nam” của Báo Mực Tím
 57/KH-SGDĐT: Kế hoạch kiểm tra công tác phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2018 ngành Giáo dục và Đào tạo.

Tin Ảnh Tin Ảnh

Liên kết Liên kết

Thống kê Thống kê

  Đang truy cập : 4
  Hôm nay: 377
  Tổng lượt truy cập: 5424834