Truy cập nội dung luôn

>>>> TIN VẮN

Mừng đất nước đổi mới, mừng Đảng quang vinh, mừng xuân Mậu Tuất 2018!

Chi tiết tin

Tư liệu giảng dạy Ngữ văn địa phương: Về nội dung bài văn bia Phạm Đăng Hưng

Phạm Đăng Hưng (1764 – 1825), quê quán tại giồng Sơn Quy (Gò Rùa), thôn Tân Niên Đông, huyện Kiến Hòa, đạo Trường Đồn (nay là ấp Lăng, xã Long Hưng, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang).

 

Khu Lăng mộ Phạm Đăng Hưng (từ trái sang: Bia mộ năm 1858, mộ và bia mộ năm 1899)

 

Ông là đại công thần của triều Nguyễn, từng giữ chức thượng thư Bộ Lễ dưới hai triều vua Gia Long và Minh Mạng, có người con gái là Phạm Thị Hằng, tức thái hậu Từ Dụ (1810-1902), nhưng dân gian quen gọi Từ Dũ được gả cho hoàng tử trưởng Nguyễn Phúc Miên Tông, tức vua Thiệu Trị (1807-1847) và người con trai là Phạm Đăng Thuật (?-1861, em trai bà Từ Dụ) kết hôn với công chúa Nguyễn Phúc Vĩnh Trinh (1824-1892, em gái vua Thiệu Trị). Cả vua Thiệu Trị và công chúa Nguyễn Phúc Vĩnh Trinh đều là con của vua Minh Mạng. Như vậy, Phạm Đăng Hưng là thông gia với vua Minh Mạng, cha vợ vua Thiệu Trị, cha chồng công chúa Nguyễn Phúc Vĩnh Trinh, ông ngoại vua Tự Đức (tên húy là Nguyễn Phúc Hồng Nhậm). Do đó, dòng dõi Phạm Đăng được xếp vào hàng Thích lý, tức bên ngoại của hoàng gia.

Năm 1825, ông bị bệnh mất tại kinh đô Huế, thọ 61 tuổi. Do có công lao to lớn đối với nhà Nguyễn, ông được vua Minh Mạng là thông gia truy tặng hàm Vinh Lộc Đại Phu, Trụ Quốc, Hiệp Biện Đại Học Sĩ, thụy là Trung Nhã. Năm 1848, ông được vua Tự Đức là cháu ngoại truy thăng hàm Đặc Tiến Vinh Lộc Đại Phu, Thái Bảo, Cần Chánh Điện Đại Học Sĩ, tước Đức Quốc Công và được thờ ở miếu Trung Hưng Công Thần, tên được ghi ở đền Hiền Lương. Đồng thời, nhà vua còn cho dựng đền thờ ông và phu nhân, gọi là Đức Quốc công từ ở Kim Long (nằm trên đường Kim Long, phường Kim Long, TP Huế, tỉnh Thừa Thiên – Huế hiện nay). Năm 1858, tiểu sử và công đức của ông được vua Tự Đức cho chạm khắc vào bia đá. Tấm bia được làm bằng đá cẩm thạch trắng có xuất xứ ở Quảng Nam, cao 2,2 mét. Bài văn bia này do Phan Thanh Giản và Trương Quốc Dụng hợp soạn năm 1857.

Về bia mộ của ông diễn tiến ly kỳ như sau:

Năm 1859, thuyền chở tấm bia từ Huế về Gò Công, khi đi ngang qua cửa Cần Giờ thì bị thực dân Pháp chận bắt và cướp lấy. Tháng 12/1860, đại úy thủy quân lục chiến Pháp Barbé bị nghĩa quân Trương Định giết chết gần chùa Khải Tường (Sài Gòn), sẵn có tấm bia lớn, thực dân Pháp cho tạc vào đó những dòng chữ tưởng niệm viên sĩ quan này, rồi dựng trước mộ của Barbé tại nghĩa địa Tây ở Sài Gòn (nay là TP Hồ Chí Minh).

Do tấm bia bị quân Pháp cướp mất, nên năm 1899, theo ý chỉ của bà Từ Dụ, vua Thành Thái cho làm một tấm bia khác bằng đá hoa cương, có nội dung như tấm bia năm 1858, mang về Gò Công và cho tôn trí ở phía bên phải lăng mộ Phạm Đăng Hưng.

Trở lại số phận của tấm bia năm 1858, vào năm 1983, nghĩa địa Tây (về sau được gọi là nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi) bị giải tỏa để xây dựng công viên. Tấm bia được chuyển đến lưu giữ tại Bảo tàng Cách mạng TP Hồ Chí Minh. Năm 1998, tấm bia được chuyển về tỉnh Tiền Giang và được tôn trí trong Nhà bia ở phía trái lăng mộ của Phạm Đăng Hưng tại lăng Hoàng Gia thuộc xã Long Hưng, thị xã Gò Công.

Như vậy, hiện nay, tại Lăng Hoàng Gia, trước lăng mộ của Phạm Đăng Hưng có 2 tấm bia: bia năm 1858 ở bên trái và bia năm 1899 ở bên phải, có nội dung giống nhau, đều ca ngợi công đức của Phạm Đăng Hưng.

 

Bia mộ năm 1858

Nhà thờ và bia đá Phạm Đăng Hưng ở Đức Quốc công từ tọa lạc tại đường Kim Long, phường Kim Long, TP.Huế, tỉnh Thừa Thiên – Huế

Nội dung bài văn bia như sau:

"Ông Thái Bảo Đức Quốc là công thần thời Trung Hưng, mất tại chức năm Minh Mạng thứ sáu, đưa về chôn tại Gò Rùa (tức giồng Sơn Quy) ở quê nhà. Nay kính truy tôn đức cũ, thuật lại nguồn xưa, vua sai chúng tôi là Phan Thanh Giản và Trương Quốc Dụng tìm tòi hành trang của ông, đem khắc nêu ra để cho khỏi mất mát.

Chúng tôi trộm nghe:

Từ xưa các bậc đế vương chịu mệnh trời và các bậc vua chúa nối dõi sự nghiệp đời trước, tuy trong mình đã có đức dồi dào, nhưng cũng phải nhờ họ hàng bên ngoài giúp đỡ, cho nên cần khen thưởng để được hiển vinh. Quốc triều ta vốn có điều lệ phép tắc rõ ràng tốt đẹp, như các ông Quy Quốc, Thọ Quốc, Phúc Quốc đều trung nghĩa giúp vua, có công với xã tắc, cho nên dùng chức cao lễ lớn để đền đáp nguyên huân chứ đâu chỉ dành riêng cho hàng thân thuộc. Ông gặp buổi trung hưng, tham gia quân đội, vừa trí vừa dũng, lập được công lao, nay nêu rõ ban khen thì cũng hợp nghĩa vậy.

Ông tên húy Đăng Hưng, tên chữ Khiết Cũ, người huyện Tân Hòa tỉnh Gia Định, đời trước là một họ lớn. Ông sơ húy Đăng Khoa, học rộng có tiếng văn chương, trong khoảng niên hiệu Chính Trị (1558 – 1571) đời Lê (tức vua Lê Anh Tông), ông giận họ Trịnh ngang ngược, không ra làm quan, gặp lúc Đức Thái Tổ Gia Dụ hoàng đế ta (tức Nguyễn Hoàng) dựng nghiệp ở Thuận Hóa, ông đem cả họ vào Nam, ban đầu ngụ tại Ái Tử (Quảng Trị), sau dời đến Phú Xuân (Huế). Ấy là tổ thiên cư trước hết vậy. Ông cố húy Đăng Tiên, lấy văn học bổ Huấn đạo (chức quan trông coi về giáo dục) phủ Tư Nghĩa (Quảng Ngãi), nhân đó dời nhà đến Mỹ Khê. Ông nội húy Đăng Dinh, thông thạo cả Nho lẫn Y, tự lấy hiệu là Huyền Thông Đạo Nhân, vì yêu cảnh núi sông xứ Gia Định, nên chọn đến ở thôn Tân Niên Đông, huyện Tân Hòa (Gò Công), từ đó mới thành người Gia Định. Ông thân húy Đăng Long, nổi tiếng về văn học và đức hạnh, ở ẩn dạy học trò, hạng trí thức trong vùng ấy gọi là Kiến Hòa tiên sinh. Vì các đời đều có ân đức, nên ai cũng sống lâu, một nhà phước thọ, người quân tử đoán thế nào cũng phát lớn vậy.

Ông (Phạm Đăng Hưng) bẩm sinh đĩnh ngộ khác thường mà lại thuần hậu, tinh thần khoáng đạt. Thưở bé, ông học ở nhà, lớn lên nhờ thầy giỏi giảng dạy rộng khắp nên ông hiểu biết nhiều, không gì không nghiên cứu. Bấy giờ Đức Thế Tổ Cao Hoàng đế (Nguyễn Phúc Ánh-Gia Long) ta mở mang đất nước, đóng tại Nam Kỳ, kẻ sĩ có chí khí và tài năng tập hợp dưới xe như rừng. Lại bộ Nguyễn Hữu Trí, xử sĩ Võ Trường Toản, đức hạnh và văn chương làm mẫu mực cho đời. Cái cơ mưu làm việc nước, điều cốt yếu để lập thân, ông đều đã đạt được.

Gặp buổi khó khăn, ông mang tấm lòng trung ái, chí toan lập công, dựng việc, cứu khổ phò nguy, bèn dự thi khoa Bính Thìn (1796), đỗ tam trường, được cho làm lễ sinh ở phủ, rồi bổ chức Diễn luân thị thảo ở Cống sĩ viện, thường cùng bàn việc với các quan thị thư. Ít lâu, đổi làm Tham luận phấn võ vệ. Những điều khoản kỷ luật trong quân, những giấy tờ kê báo, không sót thứ gì. Đây chỉ là thử thách nhỏ.

Chợt Xiêm La bị Miến Điện vây đánh, gửi thư xin cứu giúp. Ông vâng mệnh theo đại đội quan binh vượt biển sang tiếp viện. Tiếng vang tới trước giặc đã sờn lòng, lập tức mở vòng vây chạy trốn. Oai trời chấn động, nước nhỏ tôn sùng. Quân đội trở về, ông được thăng vượt bậc lên Tham tri bộ Lại.

Bấy giờ đã đặt lục khanh, phân chia chức vụ, nhưng công việc chung của quan lại đều do ông nắm giữ. Đến như chương sớ trong ngoài, bổ thăng văn võ cũng nơi ông cả, cho nên rất bận rộn. Ông siêng năng, cẩn trọng, tỉ mỉ, rõ ràng, tùy việc mà giải quyết, trong Bộ không hề bị ách tắc.

Đến mùa gió Nồm thổi mạnh, binh thuyền trẩy ra hạ thành Diên Khánh (Khánh Hòa) dẹp loạn. Trận đốt tan hạm đội giặc ở Thị Nại (Quy Nhơn), trận bức hàng giặc tại Quy Nhơn, cho đến hồi thu phục kinh sư (Huế), dẹp yên Bắc Hà, binh trời đến đâu thắng đấy. Đang lúc ấy, tướng mạnh quân hay, gió mây gặp dịp, lớn lao đẹp đẽ, rạng rỡ nhất đời. Riêng ông, không nơi nguy hiểm nào không trải qua, không trận đánh nào không theo sát, bàn mưu kế ở trong màn trướng mà quyết cơ chiến thắng ngoài ngàn dặm, tính toán rõ ràng, công ông thật lớn vậy!

Đầu đời Gia Long (1802-1819), ở chốn đô hội của non sông, nhân dân đông hàng muôn vạn, nam bắc thông thương, hải trình trở ngại. Đến khi ông vâng mệnh coi việc trường đà (thuyền vận tải), phàm kỳ hạn đi về, cách thức lui tới, tiêu chuẩn chở chuyên, bàn bạc thực hành thấy đều thỏa đáng. Hàng năm, tiền gạo, sản vật chứa đến hàng chục vạn, cung cấp đầy đủ, mà các hộ ghe thuyền đều vui lòng làm việc.

Tiếp đó, ông được thăng Thượng thư bộ Lễ, kiêm coi việc Khâm thiên giám (cơ quan trông coi việc làm lịch,  thời tiết, thiên văn,…). Giữ chức quan thanh bạch, làm nhiệm vụ thanh cao, ngày đêm chăm chỉ tìm tòi, xem xét rõ đường lợi hại, thêm sửa nhiều điều, đưa về nguyên gốc. Những lúc công việc rảnh rang, Đức Thế Tổ Cao Hoàng Đế (Gia Long) cùng các quan thong thả bàn về cái đạo trị nước của các bậc đế vương xưa. Ông nói rằng: cái học của đế vương rất hệ trong, cho nên phép trị của đế vương rất tinh thuần. Thần trộm thấy một quyển Đại học diễn nghĩa thu góp tinh hoa đạo đức tính mệnh thánh hiền, lượm nhặt vết tích trị loạn an nguy xưa nay, thật là rộng rãi sâu sắc. Quả thật ý nghĩa những lời tế nhị dạy đời của ông Khổng, ông Mạnh sáng tỏ biết bao: cái đạo cốt yếu của bậc trị dân, Châu Đức Tú đời Tống bàn đã rõ ràng. Xưa Đức Tú có cái học chân chính của nhà Nho, mà không thi hành được ở lúc nhà Tống suy tàn. Nay bọn thần không có cái gì học của Đức Tú mà may mắn được sống trong triều đại thánh minh.

Rồi ông đem sách dâng lên, vua rất vui lòng. Vì thế, lễ văn chế độ cho quốc triều ta, việc gì cũng khoan hậu mà rõ ràng đầy đủ. Thật là bậc lão thành có nhiều công sức vậy. Ông lại xin đặt kho xã thương, để phòng khẩn cấp khi mất mùa. Vua phán rằng tuy đó là việc hay, nhưng không  phải bao giờ cũng được người tốt, sợ nhiễu dân nên không chuẩn. Song đã biết không thể không nói ra, có yêu mến hơn cả. Thế gọi là nhóm tinh hoa, hợp tâm thần, vua tôi tương đắc nhường nào, đủ thấy đời ấy ra sao rồi.

Triều đình thong thả, vua tôi tin cậy nhau, hòa hợp với thần minh, chứa chan nguồn đức độ, đúng là nghìn năm mới gặp một lần. Năm thứ mười tám (1819), Thế Tổ Cao Hoàng đế sắp sửa về trời, để lại ngôi báu, đặc biệt triệu ông vào cùng Lê Văn Duyệt chịu cố mạng, mà di chiếu thì chính do ông ứa lệ tự tay viết ra. Sự truy ngộ ủy thác há chẳng trân trọng ư?

Đức Minh Mạng mới lên ngôi, trên thì vua sáng nối nền, dưới thì tôi hiền đòi đức, lại có cựu thần giúp việc, tuy ung dung chốn miếu đường mà thiên hạ ai chẳng ngóng trông phong thái. Riêng ông chăm chỉ đến từng việc nhỏ, không hề biết về ngày đêm, tấm lòng sốt sắng, tuy già mà vẫn giữ mỗi lúc đảm đương nhiệm vụ. Ông từng nghĩ rằng, miễn cho cơ nghiệp lâu bền, thì trước cần tỏ rõ niềm tin rồi về sau mới xa đài được.

Minh Mạng nguyên niên (1820) ông sung Giám tu ngọc phả (chức quan trông coi việc ghi chép, chỉnh sửa gia phả của hoàng gia). Việc lúc ban đầu, nghĩa còn mới mẻ, đặt ra thể lệ, biên chép khó khăn. Ông xem xét, xin định làm tiền kỳ (thời chúa), chính biên (thời vua), phụ lục mỗi thứ đều có quy cách, sau đó, nội dung công việc mới rõ ràng, tuân theo không đổi. Năm thứ hai sung Phó Tổng tài Quốc sử quán (cơ quan trông coi việc biên soạn lịch sử của triều đình), kính soạn Liệt thánh thực lục. Sau cơn binh lửa sách vở thiếu nhiều, ông tìm tòi lượm lặt, ngẫm nghĩ không thôi đến cả ngay trong giấc ngủ. Hai triều huân công, trung cẩn một lòng, việc nước nhọc nhằn, thân chưa từng nghỉ.

Chợt năm thứ sáu, ông lâm bệnh. Đến lúc không gượng dậy được, ông tự nghĩ: Làm sách thực lục là để cho đời sau biết công trình gầy dựng của triều ta, ngày xưa, kế mưu hay giỏi, cuốn mở muôn hình. Nhưng từ năm Đinh Mùi (1787) trở về trước, các việc biên chép còn thiếu sót. Chỉ từ năm Mậu Thân đến năm Tân Dậu (1788 – 1801), trong khoảng 14 năm, bản thảo ghi sơ lược còn có bộ lại, chính mắt ta được trông thấy hơn trăm tập, trong ấy có thể nhiều điều thu nhặt. Nay không nói để người đời sau không biết được. Đó là trách nhiệm của ta. Ông liền dâng sớ, xin kiểm điểm lại, gởi qua sử quán để giúp ít nhiều cho việc biên chép mới. Lòng tận tụy của ông có thể thấy ở những chuyện đại loại như vậy.

Đến ngày 14 năm Minh Mạng thứ sáu (1825), ông mất, hưởng thọ được sáu mươi mốt tuổi. Lúc ông đang ốm, vua sai quan ngự y đến chăm sóc, ngày ông mất, vua rất thương sót, ban cấp nhiều gấm lụa, tặng Vinh Lộc Đại Phu, Trụ Quốc, Hiệp Biện Đại Học Sĩ, cho tên thụy là Trung Nhã, sai quan lo việc tang, đưa về chôn tại làng cũ Tân Niên Đông. Ông dốc lòng trung nghĩa, gặp bậc thánh minh, lại thêm bản chất tinh thuần, cùng với nếp nhà hiền đức, nảy sinh năm trước, phát mãi điềm lành. Nay Đức Thánh Từ Hoàng Thái Hậu (bà Từ Dụ) là con gái cả của ông. Đồ Sơn giúp nhà Hạ, Sầu Tư hưng nhà Chu góp nhóm phúc lành về sau còn mãi.

Đức Hoàng thượng ta (tức vua Tự Đức) nối ngôi, năm thứ hai (1849) đặc sai tham khảo điếu tế, gia tặng ông (Phạm Đăng Hưng) Đặc Tiến Vinh Lộc Đại Phu, Thái Bảo, Cần Chính Điện Đại Học Sĩ, phong tước Đức Quốc Công, vẫn thụy Trung Nhã. Bà họ Phạm (Phạm Thị Dụ, vợ của Phạm Đăng Hưng) tặng phong nhất phẩm Đức quốc phu nhân. Dựng nhà thờ riêng ở kinh sư.

Lại báo phong các đời để truy tôn đức trước. Ông thân (cha của Phạm Đăng Hưng Phạm Đăng Long) tặng Từ Thiện Đại Phu, Lại Bộ Thượng Thư, Phước Yên Hầu, thụy Trung Nghị, bà họ Phan (Phan Thị Tánh, vợ của Phạm Đăng Long) tặng Đoan Khiết Phu nhân. Ông nội (Phạm Đăng Dinh) tặng Gia Nghị Đại Phu, Hàn Lâm Viện Chưởng viện học sĩ, Bình Thạnh Bá, thụy Cẩn Lượng, bà họ Trương (vợ của Phạm Đăng Dinh) tặng Đoan Hòa thục nhân. Ông cố (Phạm Đăng Tiên) tặng Trung Thuận Đại Phu, Hàn Lâm viện Thị Đại Học Sĩ Mỹ Khánh Tử, thụy Đoan Ý, bà họ Bùi (vợ của Phạm Đăng Tiên) tặng Đoan Cung nhân. Ông sơ (Phạm Đăng Khoa) tặng Trung Thuận Đại Phu, Hàn Lâm viện Thị Đại Học Sĩ Mỹ Khánh Trung Thuận Đại Phu, Thiêm Sự Phủ Thiếu Thiêm Sư, thụy Hòa Mẫn, bà họ Nguyễn (vợ của Phạm Đăng Khoa) tặng Đoan thục Cung nhân. Các vị thứ riêng ở Tích Thiện từ, tỏ rõ sự báo đáp tốt đẹp.

Năm Tự Đức thứ năm (1852) bàn bạc bổ sung điển thờ công thần, chúng tôi cho rằng ông buổi đầu dựng nước giúp việc quân cơ, sau lúc bình yên, tham gia chính trị, công lớn rõ ràng, trước sau trọn tiết, xếp vào thờ hàng đầu cũng đúng với lễ nghi báo đáp. Cho nên ông cùng Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định được đưa vào thờ ở miếu Trung Hưng công thần.

Ôi! Đức là chủ, công là thêm. Sùng Đức báo công là để khuyến khích điều lành. Công thì thờ, có đức thì phong, lấy "tích thiện" (chứa điều lành) mà đặt tên nhà thờ, cũng là để khuyên răn, chẳng đã rõ ràng đây sao?

Ông có bốn con trai, Đăng Tuấn tặng Lang Trung, Đăng Tá tặng Viên Ngoại Lang, Đăng Thiệu tập ấm hàm Cai đội, Đăng Thuật làm quan Lang trung bộ Lễ lấy công chúa (tức công chúa Nguyễn Phúc Vĩnh Trinh), tiến phong Phò mã Đô úy, phụng triều chính. Cháu đích tôn Đăng Đạt tập ấm hàm Cai đội. Phái đích tôn Đăng Đạt tập ấm Quản cơ, cháu thứ Đăng Truyền tập ấm Phó Quản cơ, Đăng Nghi, Đăng Đệ đều tập ấm Cai Đội. Phái đích, con Đăng Trừ tập ấm Quản cơ, Đăng Oai tập ấm Chánh đội trưởng, cháu Đăng Phương tập ấm Cai đội. Hiện nay (1857) Đăng Đạt trong coi nhà thờ và phần mộ.

Mộ ông và bà đều ở tại Gò Rùa, cách nhau độ vài trăm bước.

Ôi! Phước đức trung nghĩa của ông như thế mà chưa khắc vào bia đá là một thiếu sót!

Nay vâng mệnh làm ra để tỏ lòng đời sau vậy:

Minh rằng:

Ngự Long đặt họ, vốn tự Đào Đường

Thương Chu lập nước, thờ cúng phép thường

Đền thờ Hạ Tấn họ Phạm tỏ tường

Ấy đời hưng thạnh, truyền lại miên trường

Từ Bắc vào Nam, nhiều đời chở đức.

Sinh bậc triết nhân, ôn cùng phép tắc

Kiến thức bao la luận bàn sâu sắc

Thiên phận đã cao, học hành càng chắc.

Nhạc thần sinh xuống, Mão tú chứa tình

Đưa rồng vinh phượng, phúc nước tốt lành.

Gói mây tụ hợp, nhật nguyệt quang minh

Dẹp tan tăm tối, đem lại thái bình

Bốn bể sạch không, võ công đạt đỉnh,

Trước xứng thi thư, tỏ hay nghĩa kinh

Nghi lễ sửa sang, văn chương hiệu đính,

Chế độ điển chương, dồi dào hưng thịnh.

Thế tổ cao xa, lớn lao mệnh chính.

Nhân tổ lên ngôi, thánh nhân nối thánh

Nhân thâm đất trời, muôn loài hợp tính.

Đường đường nguyệt lão, kính cẩn đêm ngày

Hai triều rạng vẻ, đức độ không thay

Biên tu một chức, hôm sớm liền tay

Lâm chung để biểu, chẳng chút riêng tây

Trung thành son sắc ai cũng tôn thầy.

Yêu mến hòa vui, nổi lòng khương tỉ

Mãi mãi sáng ngời, vun bồi phước chỉ

Rộng lớn khoa nguyên, nhân chung càng thỉ

Trường lạc tươi xuân, Dao trì tuyệt mỹ

Thư loan lại xuống, dung rộng suy cao

Khảo xem di điển, thấy rõ công lao

Vẻ vang phong tước, huân lớn ơn đào

Nghĩ đến gia thành, tùng thu rợp bóng

Sóng trước quanh co, gò sau lồng lộng

Chất chứa tinh anh, tạo nên gò đống.

Dựa chốn linh thiêng, bởi ông đức trọng

Ngọc đá khắc bia, nghìn đời tưởng vọng.

Ngày tốt tháng Chạp năm Tự Đức thứ 10 (1857)

Phan Thanh Giản, Hiệp Biện Đại Học Sĩ, lãnh Lễ Bộ Thượng thư

Trương Quốc Dụng, Hình bộ Thượng thư vâng mệnh soạn

Kính khắc"

TUỆ MINH Chú giải

Tiến sĩ Nguyễn Phúc Nghiệp

 

 

 

 

 

Tin liên quan
8 kết quả nổi bật của Ngành Giáo dục và Đào tạo Tiền Giang năm 2017    13/02/2018
Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ: Gửi thư chúc năm mới tới toàn thể thầy cô giáo, học sinh, sinh viên cả nước    13/02/2018
Công đoàn Giáo dục Tiền Giang tổ chức Hội nghị Sơ kết hoạt động Công đoàn học kỳ I năm học 2017-2018    13/02/2018
Trường Tiểu học Phước Lập 1 nhận Bằng công nhận đạt chuẩn Quốc gia mức độ 1    13/02/2018
Ngày hội Giao lưu Tiếng Anh học sinh tiểu học tỉnh Tiền Giang lần thứ 2    13/02/2018
Tổng kết Hội diễn văn nghệ Mừng Đảng - Mừng Xuân Mậu Tuất 2018    13/02/2018
Trường Tiểu học Đinh Bộ Lĩnh (TP. Mỹ Tho) đạt chuẩn Quốc gia cấp độ II    08/02/2018
Tầm quan trọng của tự học    02/02/2018
Sở Giáo dục và Đào tạo thăm và chúc Tết nguyên lãnh đạo Sở qua các thời kỳ    02/02/2018
Thành phố Mỹ Tho - Vùng đất, con người và truyền thống    26/01/2018

Văn bản mới Văn bản mới

Tin Ảnh Tin Ảnh

Anh Đoàn Văn Hiểu Em tặng 30 xe đạp cho học sinh vượt khó học tốt
Anh Đoàn Văn Hiểu Em đã tặng 30 chiếc xe đạp cho các em học sinh Trường THCS Nhị Quý (thị xã Cai Lậy).

- Trường THPT Chuyên Tiền Giang giao lưu với Trường Sasebo Nishi, Nhật Bản

Liên kết Liên kết

Thống kê Thống kê

  Đang truy cập : 6
  Hôm nay: 1622
  Tổng lượt truy cập: 5119578